Freitag, 29. Dezember 2006

Điểm tình hình phim ảnh của bản thân 2006




Năm 2006 lần đầu tiên được sở hữu một cái máy quay phim khá xịn. Cả năm quay không nhiều, chắc được chừng 100 phút là cùng, mà chưa làm cái clip nào cả. Tất cả vì lười. Điều đó nói lên rằng tình yêu với điện ảnh của mình dường như nên được chứng minh ở một góc độ khác, chứ mình sẽ không trở thành người làm phim được. Thôi thì hãy bằng lòng với tư cách người xem phim (tự nhận là) có gu vậy.

Năm 2006 mở màn bằng việc mua 1 loạt đĩa phim DVD ở Hà Nội và Sài Gòn mà cho đến bây giờ vẫn chưa xem hết. Trong số đó tuyệt vời nhất là bộ 18 phim hoạt hình của Studio Ghibli. Xem Grave of the Fireflies khóc từa lưa, ngoài ra các phim khác phim nào cũng thú vị. Bộ phim xem rạp đầu tiên là 2 trong 1 ở cái rạp Ngọc Khánh mới được sửa lại vào đêm mùng 1 Tết. Phim này đúng kiểu phim chiếu Tết, xem giải trí vèo 1 cái quên luôn.

Berlinale 2006 xem được một vài phim. Ấn tượng nhất là A Soap, phim sau đó đoạt giải Gấu Bạc và giải Phim đầu tay hay nhất. Phim giành Gấu Vàng Esma's Secret đến cuối hè mới được xem. Một bộ phim tuyệt vời, xem phim này mà mình mường tượng được Balkan trong quá khứ và hiện tại, một khu vực phải thú thực là mình có rất ít hiểu biết. Coming out of age của phim này thú vị, chứ không hời hợt như trong Mùa len trâu. Thất vọng nhất là phim Invisible Waves, phim này lại còn được Thái Lan gửi đi dự Oscar mới ghê. Cái phim đoạt giải Teddy The Blossoming of Maximo Oliveros mãi tháng 12 vừa rồi mới có dịp xem. Phim như phim mì ăn liền ngày xưa, nhưng xem giải trí cũng vui. Cái Sehnsucht được báo chí khen ơi là khen vừa rồi mới được xem, thấy cũng bình thường. Xem mà thấy xót xa cho chính những diễn viên không chuyên của phim trong một mùa đông ảm đạm miền Đông Đức. Có lẽ phim đặc biệt ở chỗ ấy, các diễn viên như bị "phanh phui" thân phận của chính mình trên màn bạc. Năm 2006 chẳng có phim Việt Nam nào được chiếu ở Berlin. Cứ hy vọng Sống trong sợ hãi nhưng rồi cũng chẳng thấy đâu. À mà vừa rồi thấy Bùi Thạc Chuyên khoe là phim đi Rotterdam tháng 1 tới. Thấy viết là tranh giải nhưng phim này vừa chiếu ở Rome rồi thì làm sao tranh giải được (điều kiện ít nhất phải là European Premiere)?

Brokeback Mountain là bộ phim được chờ đợi nhất của đầu năm 2006. Và quả thật, phim xúc động và hay khiến mình phải đi xem lại một lần nữa khi phim chính thức ra rạp. Năm nay chỉ có vài phim mà mình xem 2 lần, mà Brokeback Mountain là một trong số đó.

Giữa năm xem được The Lives of Others, một phim Đức về thời DDR thực sự hay. Ghi chú thêm là phim này vừa thắng lớn tại giải thưởng phim Châu Âu với giải Phim hay nhất. Nó đi ngược lại tất cả những bộ phim tô hồng quá khứ trước đó như Goodbye Lenin hay Sonnenallee.

Gần cuối năm xem được vài phim hay đến rất hay: Volver (dù đây không phải là phim hay nhất của Almodovar), Marie Antoinette (nhiều cảnh giống y như Virgin Suicides), King and the Clown (thỏa lòng mong ước, tuy nhiên xem lần thứ 2 cảm xúc không còn nguyên vẹn như lần đầu), The Banquet (bất ngờ, vì cứ tưởng phim này blockbuster thì sẽ bình thường thôi), The Departed (một remake có đời sống riêng, tuy nhiên cái kết hơi bị thất vọng), Borat (phim tưởng như hời hợt nhưng lại rất sâu cay) và dĩ nhiên Children of Men (theo mình là phim của năm 2006, chắc là do bệnh nghề nghiệp).

Bộ phim giả nghệ thuật ghê rợn nhất bị xem phải là Broken Sky. Kế đó là Brown Bunny.

Nhiều phim dự định chuẩn bị xem: Little Miss Sunshine, Babel, Light in the Dusk, The QueenShortbus.

Nhiều phim Việt Nam muốn xem mà mãi chẳng có cơ hội để xem: 1735km (bạn phanxine đã cho người khác DVD rồi mà không thấy gửi cho mình), Áo lụa Hà Đông (phim này còn chẳng có website, trailer tìm mãi chả thấy), Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt (phim này được bạn phanxine bầu là phim Việt Nam hay nhất năm rồi mà chẳng thấy có DVD) và Chuyện của Pao (thấy hình ảnh cũng đẹp, lại được Hải-Yến PR quá cỡ làm mình cũng phải tò mò).

Vậy là năm 2006 sắp qua. Hy vọng năm tới mình sẽ được xem nhiều phim hay và có giá trị.

Dienstag, 12. Dezember 2006

Vienna (part I): Vienna by night




Phần đầu tiên có lẽ là ấn tượng về thành phố khi nắng đã tắt.

Đến Vienna vào dịp trước lễ Giáng Sinh. Nơi nơi đèn sáng ấm áp. Đường phố nhà cửa trang hoàng rực rỡ. Chắc có người thắc mắc là tấm hình loan báo chuyến viếng thăm Vienna của tôi được chụp ở đâu. Trên hình là tòa nhà thị chính của thành phố, cũng trong một buổi tối tháng 12 năm nào đó và được chụp bởi một người không quen. Đây là mặt tiền của tòa nhà này, do tôi chụp:


Từ một góc nhìn xa hơn:


Trên quảng trường trước tòa thị chính là một chợ Giáng Sinh. Các cây cối được treo đèn lồng rực rỡ. Khung cảnh của cổ tích:


Khu Am Graben là khu mua bán nổi tiếng nhất của thành phố với các cửa hiệu của các hãng thời trang hàng đầu thế giới:


Giữa thành phố đông đúc, không phải là không có những góc và ngõ phố cổ như thế này:


Và giữa những màu đỏ và vàng đặc trưng của đèn những ngày giáng sinh, tự nhiên thấy bồi hồi khi bắt gặp một màu xanh hiền hòa:


Đêm đang nằm, chợt bật dậy bởi nhớ ra chưa chụp ảnh Vienna đêm từ trên cao. Và đây, nhìn từ căn phòng tôi ngủ:


Mảnh trăng cuối tháng xứng đáng được hưởng một cái close-up:


Đêm cuối cùng không ngủ được. Có thể gọi là nuit blanche cũng được. Còn đây là nuit noire à Vienne.

Mittwoch, 6. Dezember 2006

Vienna calling




Ngày mai đi Vienna.

Lần đầu tiên đi Vienna. 

Thành phố của nhạc cổ điển.

Thành phố của văn hóa.

Thành phố xa nhất phía Đông mình từng đến.

Hồi hộp.

Mong nhìn thấy dòng Donau.

Mong  được ngồi trong Staatsoper.

Và mong gặp lại bạn.

Không biết bạn có thay đổi gì không.

Không biết bạn đã dám sống cuộc sống của bạn chưa.

Nơi đây trời vẫn rả rích mưa.

Mùa đông sắp đến.


Montag, 4. Dezember 2006

Northern Vietnam, 25 years ago

Theo tường trình của học sinh, trong 3 ngày 17-19/11, một đoàn giáo viên của Trường THPT Sơn Hà (Quảng Ngãi) tay cầm kéo lần lượt vào từng lớp. Với lý do vi phạm "nội quy" của trường về tóc, 200 học sinh đã bị xén tóc nham nhở. Có em đến thợ cắt tóc sau đó muốn chỉnh sửa cũng không được, đành cạo trọc.


Bà Nguyễn Thị Xuân Hương, Hiệu trưởng Trường THPT Sơn Hà khẳng định, việc Ban giám hiệu thành lập đoàn giáo viên cầm kéo vào từng lớp xén tóc học sinh là đúng nội quy nhà trường.


Theo nội quy này, học sinh vào lớp mặc quần ống loe sẽ bị hớt, đi dép quai chéo (như dép Lào) sẽ bị thu hoặc cắt quai. Còn nam sinh để tóc chấm tai, mái quá hàng lông mày, mai quá 1/3 tai là xén.


Bà Hương nhấn mạnh: "Việc làm của chúng tôi không có gì là phi giáo dục cả, chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện".


(Theo Người Lao Động, Thanh Niên)

Freitag, 1. Dezember 2006

“Sài Gòn thành phố mở”




Hình: Momentum, Instalation 2003 (Website Saigon Open City)



“Sài Gòn thành phố mở”… té ra là đóng!

Bài của Nguyễn Quân
 
Đọc dự án và xem giấy mời khai mạc cùng chương trình ba ngày của “Sài Gòn thành phố mở” do Công ty SOC (Saigon Open City) tổ chức, tôi phải nhận là ý tưởng rất hay, nội dung phong phú và quy mô hoành tráng; lại là một hình thức tổ chức tư nhân hoá hoàn toàn một sự kiện mỹ thuật quốc tế ở Việt Nam. Vào WTO rồi thì thế mới là bình thường! Công ty SOC được thành lập từ mấy năm nay để lo việc này. Trước đây phương án làm Saigon Biennale cực lớn đã tiêu tốn một mớ tiền sau phải bỏ, dự án được đổi sang SOC = Sài Gòn thành phố mở. Hai curator đầy kinh nghiệm từ Thái Lan xếp thành 3 chương Giải phóng - Thống nhất - Tái thiết . Lần này là Giải phóng. Từ nước ngoài sẽ có sự tham gia của các tên tuổi lừng danh như Yoko Ono (Anh-Mỹ), Joseph Bueys (Đức), Nam Jun Paik (Hàn Quốc)… và mười mấy nghệ sĩ đương đại từ mười mấy nước. Từ Việt Nam sẽ có đủ ba thế hệ từ Quách Phong, Huy Toàn, qua Đỗ Thị Ninh, Đào Minh Tri, Trần Lương, Trương Tân tới Ly Hoàng Ly, Lê Vũ… Tài trợ là Quỹ Ford, Quỹ Trung tâm Mỹ và nhiều cơ quan khác. Các sự kiện diễn ra đồng loạt tại bốn bảo tàng và trụ sở của SOC. Nghe quá đã! Và một vài báo đài ta tây vội vã đưa tin về sự kiện mỹ thuật đương đại lớn nhất Việt Nam này. Còn thêm một số khách VIP được mời vào Sài Gòn để chứng kiến nữa!



Sự thật thì 4 ngày qua Giải phóng diễn ra như thế nào?



Ngày 25/11 cuộc họp báo bị huỷ bỏ. Cuộc nói chuyện của David Ross, một curator nổi tiếng về Yoko Ono, phải chuyển thành nói chuyện nội bộ ở trụ sở Hội Mỹ thuật thành phố. Ông Quý Đức, một nhà báo Mỹ làm việc ở Hà Nội nói: Ông Ross giới thiệu quá ít về Yoko; một thính giả khác nói: Ông ta sang Việt Nam lần đầu nên nói như một nhà ngoại giao.



Ngày 26/11 tất nhiên không có việc mở cửa cả bốn bảo tàng cho công chúng xem, không có đạo diễn nghệ thuật hướng dẫn xem và minibus đưa đón, cũng không có lễ khai mạc với âm nhạc trình diễn, trình diễn của Y. Ono như trong giấy mời vì chưa dàn dựng xong và không có giấy phép, vả lại Yoko Ono (vợ goá của John Lennon) không tới Việt Nam! Ở trụ sở SOC, một quả bom bằng các chai gội đầu sunsilk (của một tác giả Indonesia) đang được đan buộc ngoài hành lang, các phòng còn đang dang dở cả. Phòng giới thiệu lịch sử Việt Nam có minh họa bằng photocopy một số tác phẩm mỹ thuật Việt Nam viết tiếng Anh chưa dịch sang tiếng Việt! Các tác giả và ban tổ chức chen chúc trong các phòng sơn vẽ sơ sài của SOC thuê trên lầu 1 của một toà nhà cũ đối diện một phòng tập võ, một quán bán riêu cá và hai sân quần vợt! Ba tác phẩm trình diễn cũng dồn về đây. Lê Ngọc Thanh từ Huế nói: Họ mời tụi em diễn ở Bảo tàng Mỹ thuật, tụi em mừng quá, giờ lại làm ở chỗ chật chội thế này. Không có giấy phép mà cũng không nói với em, cứ bảo anh em diễn, nhỡ người ta bắt tụi em thì sao!



Hai ngày 27 và 28/11 có hai buổi thuyết trình và gặp gỡ ba thế hệ nghệ sĩ cũng dồn vào một phòng nóng nực với sự có mặt của các tác giả ban tổ chức và vài khách VIP. Hai vị lão thành đại diện thế hệ thứ nhất ốm không dự được!



Cả bốn ngày với các sự kiện trên đều đóng kín mít trong phạm vi ban tổ chức, đạo diễn nghệ thuật và một số tác giả, không có một công chúng nào tham gia, giới mỹ thuật TP HCM hầu như không được biết, được mời, công chúng thành phố lại càng không tuyệt đối! Một dự án thành phố mở, “dọa” làm sôi động thành phố bằng nghệ thuật, hoá ra chỉ là một hoạt động studio workshop im lìm tẻ nhạt.



Phải nói rõ rằng tới ngày 28/11, trong khi chờ giấy phép thì tại Bảo tàng Mỹ thuật thành phố các video đang được lắp đặt, một vài tranh và ảnh nước ngoài đang được treo, phần tranh Việt Nam đã ở trên tường, gồm vài tranh mang từ Hà Nội vào, còn lại phần lớn là tranh về đề tài chiến tranh có sẵn trong bảo tàng nay sắp xếp lại! Tại Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh đang làm tường giả để chuẩn bị dàn dựng! Tại Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ có bộ mâm nhôm xếp thành hình nón của Ly Hoàng Ly và cái váy cưới nửa bằng xích kim loại của Trương Tân và một video của Nguyễn Quang Huy!



Phía tổ chức có ý thanh minh (và đổ lỗi) sự chậm trễ, trục trặc này là do thành phố chần chừ cấp giấy phép, “chưa cởi mở với nghệ thuật đương đại”, nhưng giả sử đã có giấy phép, triển lãm cũng chưa thể diễn ra vì vẫn chưa dàn dựng xong. Và xét về nội dung thì như nhà báo Hoàng Hưng phát biểu: “Không có các tác phẩm mới, toàn là những cái đã làm ở nhiều nơi nay làm lại hay chiếu lại”. Khi được hỏi về chủ đề Giải phóng của triển lãm thì curator chống chế rằng: Giải phóng có nghĩa rộng, chung, làm nghệ thuật cũng là giải phóng! (Thế hai chương Thống nhất - Tái thiết sắp tới thì sao?) Không có installation và performance nước ngoài, trong nước thì gồm toàn những tác phẩm quen thuộc làm lại. Ban tổ chức lại chống chế là: Giới thiệu các tác phẩm cũ “trong ngữ cảnh mới” để công chúng dần làm quen với các môn mới. Tiếc rằng không có công chúng trong bốn ngày qua, nhưng cũng may chứ nếu không họ cũng sẽ khó mà thích thú với toàn những tranh và các thứ họ đã biết cùng một số video nước ngoài. Không lẽ họ đến Bảo tàng Mỹ thuật thành phố để xem lại các tranh vốn vẫn ở đó được xếp theo “ngữ cảnh mới”?



Có điều đáng nói nữa là trước đó, ngày 24/11, tại trụ sở Hội Mỹ thuật thành phố đã khai mạc đàng hoàng vui vẻ một triển lãm vệ tinh của SOC do Trần Lương làm curator với 9 tác phẩm sắp đặt và trình diễn của 9 sinh viên Hà Nội - Huế - Sài Gòn khá mới mẻ và thú vị. Việc nhỏ thì làm gọn nhưng việc lớn thì hình như quá sức tổ chức của SOC!



Dù hiện nay SOC vẫn phấp phỏng chờ giấy phép để mở cửa trưng bày tại mấy bảo tàng, thì phải nhận rằng đây là một bài học thất bại của việc tổ chức sự kiện mỹ thuật đương đại quốc tế cỡ lớn, từ nội dung tới quy trình hành chính và công việc dàn dựng. Có thể do sự thiếu am hiểu sâu sắc của các curator về “ngữ cảnh” mỹ thuật đương đại ở Việt Nam, về lịch sử mỹ thuật Việt Nam, về cộng đồng mỹ thuật ở TP HCM. Có thể do SOC chưa tìm được những đối tác tốt giúp họ thực hiện trót lọt dự án, chưa có được sự ủng hộ của cộng đồng nghệ sĩ thành phố v.v. và v.v… Thực ra trước SOC đã có nhiều sự kiện mỹ thuật quốc tế được tổ chức thành công từ các trại điêu khắc quốc tế, liên hoan nghệ thuật đường phố ở Festival Huế hay các hoạt động ở Viện Goethe, Hội đồng Anh, L’Espace ở Hà Nội.



Hy vọng SOC rút ra được những kinh nghiệm để chữa chạy phần sau của Giải phóng và tổ chức tốt các chương Thống nhất - Tái thiết tiếp theo. Để công chúng Thành phố mở này không bị “bé cái nhầm” như lần này.



© 2006 talawas



****************************



Nhà tổ chức “Sài Gòn thành phố mở” thực sự yếu kém về tổ chức
Phỏng vấn Trịnh Cung do Thuận Thiên thực hiện
 
Thuận Thiên: Ông nghĩ gì về chủ đề “Giải phóng, Thống nhất và Tái thiết” mà những người chủ trương dự án "Sài Gòn thành phố mở” (SOC) đặt cho cuộc triển lãm quốc tế nghệ thuật đương đại tại thành phố Hồ Chí Minh vừa được khai mạc (không chính thức) vào ngày 26-11-2006?



Trịnh Cung: Theo tôi được biết khi còn là cố vấn cho dự án “Saigon Biennales” (tiền thân của “Sài Gòn thành phố mở”), chủ đề này do hai curator người Thái là Kirkrit và Gridthiya đưa ra cho Đỗ Tuyết Mai, nhà sáng lập dự án “SOC”. Khi đó, tôi có đưa ra ‎ý kiến với Đỗ Tuyết Mai là chủ đề này quá nặng về chính trị và e rằng không còn phù hợp cho một không khí lễ hội sáng tạo nghệ thuật đương đại. Tuy nhiên, trước đó, dự án “Saigon Biennales” đầy tham vọng của Đỗ Tuyết Mai gặp phải sự tẩy chay quyết liệt của giới quản l‎ý mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh nên việc có một giấy phép thực hiện dự án này là không thể được. Và có lẽ để dễ được chấp nhận hơn, “Saigon Biennales” đã được đổi thành “Sài Gòn thành phố mở” và một chủ đề không lấy gì làm “mở” như thế đã được họ chủ trương. Chủ đề này có khi chỉ là cách tiện nhất để có một giấy thông hành cho một loại hình nghệ thuật đang còn nằm ngoài sự thừa nhận chính thức của hệ thống mỹ thuật Việt Nam. Hoạ sĩ Trần Lương, một trong các giám đốc nghệ thuật của sự kiện, có giải thích rằng cần hiểu chữ “Giải phóng” theo một ‎ý nghĩa rộng, như là người nghệ sĩ tự giải phóng tư duy sáng tạo của chính mình, nhưng tôi thấy cách giải thích ấy khó thuyết phục vì chữ “Giải phóng” ở đây không đứng riêng, mà theo sau nó còn có “Thống nhất” và “Tái thiết”.



Thuận Thiên: Việc hai curator người Thái chủ trì sự kiện mỹ thuật này của Việt Nam có gì tốt và có gì hạn chế?



Trịnh Cung: Không thể chối cãi rằng người Thái có mỹ thuật đương đại trước Việt Nam khoảng một thập niên nên họ có nhiều kinh nghiệm về mặt quản l‎‎ý và dàn dựng một sự kiện triển lãm nghệ thuật đương đại. Hơn nữa, có thể là với uy tín nghề nghiệp của mình, Kirkrit và Gridthiya có khả năng giúp Đỗ Tuyết Mai mời được những nghệ sĩ quốc tế đến Việt Nam và dễ nhận được tiền tài trợ từ các quỹ văn hoá như Quỹ Ford chẳng hạn. Tuy nhiên, về những mặt còn lại, có khi còn quan trọng hơn, trong việc tổ chức một sự kiện mỹ thuật lớn ở nước ta, làm sao họ thấu đáo hơn ta? Chẳng hạn những giới hạn và thực tế về môi trường mỹ thuật Việt Nam ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án; về vai trò của Hội Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Đây luôn luôn là chủ thể của các hoạt đông mỹ thuật mang tính toàn thể của mỹ thuật thành phố, là một thế lực không chỉ là chính trị mà còn cả về nghề nghiệp, không một cá nhân nào được phép vượt qua để làm một sự kiện như loại “Sài Gòn thành phố mở”. Còn tâm thức của lớp nghệ sĩ đương đại Việt Nam đang ôm ấp những gì? Các vấn đề mà họ quan tâm? Làm mới hơn, tự do hơn cho ngôn ngữ mỹ thuật Việt Nam, làm sao sớm thoát ra khỏi những trì trệ của một cơ chế văn hoá cũ kỹ tồn tại quá lâu để mọi tư duy và cảm hứng nghệ thuật được tự do bày tỏ là những gì họ đang tranh đấu ở đây. Cho nên khi đưa ra một chủ đề vừa đóng khung, vừa một chiều như vậy, sân chơi này dù có được cấp phép cũng sẽ rất buồn tẻ, đừng nói chi đến việc không được phép như thực tế đang xảy ra.



Thuận Thiên: Trong thành phần hoạ sĩ tham dự, có thể thấy ngay sự thiếu vắng những hoạ sĩ Sài Gòn trước 75. Trong buổi hội thảo tại Studio SOC, curator Kirkrit cho biết những hoạ sĩ trong nhóm này được mời tham dự nhưng họ đã từ chối. Ông bình luận gì về tuyên bố này?



Trịnh Cung: Tôi không tin là họ chính thức được mời trực tiếp từ Kirkrit, cách trả lời này là không thành thật, vì bản thân tôi cũng là một trong trong số đó nhưng không hề nhận được một tín hiệu nào. Mặt khác, nếu nhận được lời mời thì không phải tất cả đều từ chối vì những hoạ sĩ Sài Gòn không phải là một tổ chức, họ là những cá nhân có những suy nghĩ và chọn lựa riêng của mình.



Thuận Thiên: Được biết buổi họp báo ngày 25/11 và lễ khai mạc chính thức vào ngày 26/11 đã không xảy ra như trong thông cáo báo chí. Đến ngày 25/11, trong khi các nghệ sĩ từ Hà Nội và nước ngoài đã có mặt, thì chương trình được thông báo (không nhiều người biết) là chiều 26/11 chỉ có vài tiết mục performance và tiệc đứng đơn giản ở Studio SOC. Số người biết thông tin để đến dự buổi giới thiệu tác phẩm của Yoko Ono (do trợ ‎lý của bà là David Ross phụ trách) và hai buổi toạ đàm của các curator và các nghệ sĩ rất hạn hẹp.



Trịnh Cung: Tôi đã đích thân tìm đến một trong những địa điểm triển lãm là nhà Bảo tàng Phụ nữ TP HCM đúng vào ngày khai mạc “Sài Gòn thành phố mở” theo thông cáo báo chí trước đó, nhưng ở đây không khí thật im lặng, ngoại trừ một tiệc đám cưới với ca nhạc đang tưng bừng ngay bên cạnh. Thì ra “SOC” vẫn chưa có được giấy phép hoạt động để bắt đầu khai mạc cho sự kiện nghệ thuật này. Trong một cuộc trao đổi ngắn qua điện thoại với hoạ sĩ Trần Lương, một trong những giám đốc nghệ thuật của sự kiện mỹ thuật này, tôi được biết cho đến ngày dự kiến khai mạc 26-11-2006, ban tổ chức cũng còn tiếp tục công việc xin giấy phép. Nhưng theo anh, những người tổ chức không vì khó khăn mà nản chí, cứ tranh thủ được đến đâu làm đến đó.



Thuận Thiên: Một số người chịu khó tìm đến ba chỗ bày tác phẩm (Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, Studio SOC) để xem thì thấy hình như có một điều gì đó không nhất quán trong nội dung triển lãm của nhà tổ chức?



Trịnh Cung: Theo thông cáo báo chí của Ban tổ chức, phần đầu cho biết: “Giải Phóng nhìn lại thời kỳ chiến tranh chống Mỹ qua con mắt của những nghệ sĩ lão thành, của thế hệ nghệ sĩ quân đội tham gia trực tiếp vào cuộc chiến cũng như qua cách tiếp cận của các nghệ sĩ thế hệ trẻ... Đây là cuộc gặp gỡ và đối thoại hiếm hoi giữa 3 thế hệ nghệ sĩ tạo hình Việt Nam với các trải nghiệm xã hội và kinh nghiệm, quan điểm nghệ thuật khác nhau”, nhưng phần tiếp theo lại chủ trương: “Cuộc triển lãm nhấn mạnh khía cạnh đời thường, những ghi chép giản dị của các nghệ sĩ về cuôc sống thường nhật…”.



Rất dễ nhận ra những tiêu chí trong văn bản này là lòng vòng, khập khiễng, mang tính tranh thủ với nhà đương quyền là chính. Trên thực tế, như câu hỏi đã nêu, qui mô tầm cỡ sự kiện và chủ đề to tát của cuộc triển lãm đã biến thành đầu voi đuôi chuột. Không giấy phép nên sự kiện mỹ thuật đương đại quốc tế này đã diễn ra không kèn không trống; thiếu vắng nhiều nghệ sĩ trong nước và quốc tế được nêu tên trong thông cáo báo chí, nhất là không có Yoko Ono - cái đinh của sự rạo rực chờ đợi của giới mỹ thuật Việt Nam; chỉ có những trình diễn bỏ túi trong chật chội, nóng bức; những tác phẩm sắp đặt đã cũ, ít ỏi, được tập trung tại trụ sở “SOC” 3A Tôn Đức Thắng, Quận 1, gần như không có công chúng trừ một số ít ỏi người trong giới và nhà báo, tất cả những điều đó đã cho thấy nhà tổ chức “Sài Gòn thành phố mở” thật sự yếu kém về tổ chức nếu không muốn nói là đã phạm một sai lầm không thể chấp nhận được: Lợi dụng tên tuổi và lòng đam mê của các nghệ sĩ!



Thuận Thiên: Như vậy người yêu mỹ thuật hoặc tò mò về cuộc triển lãm mỹ thuật đương đại có tầm vóc qui mô nhất nước sẽ nhận được gì từ một tập hợp tác phẩm như thế?



Trịnh Cung: Tất nhiên là không có gì, ngoài một bữa buffet quốc tế chỉ gồm vài món thức ăn cũ được dọn lôi thôi bởi hai đầu bếp Thái.



Thuận Thiên: Theo ông, tương lai của nghệ thuật đương đại Việt Nam sau sự kiện này sẽ khá hơn?



Trịnh Cung: Như chúng ta đều biết, ở Việt Nam, với ngôn ngữ chính là vật chất, mỹ thuật có lợi thế hơn văn học. Tuy nhiên, khi mỹ thuật của thế hệ trẻ hôm nay đang bước qua giới hạn của vật chất để đưa ra một thái độ xã hội như trong các hình thức trình diễn, sắp đặt,… thì con đường phát triển của nó cũng phải dừng lại ở chừng mực được nhà nước cộng sản Việt Nam cho phép. Ngay cả các nghệ sĩ - curator người Thái như Kirkrit và Gridthiya còn phải dùng đến chủ đề “Giải phóng, Thống nhất và Tái thiết” để được làm chủ xị một sự kiện mỹ thuật như thế này trên đất nước của chúng ta, thì bao giờ những Đào Anh Khánh hay bất kỳ ai đó được tự do trình diễn thứ nghệ thuật mang tính cộng đồng này trên đường phố Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh? Khá hơn hay không, không phải nằm ở khao khát của người nghệ sĩ mà về phía cánh cửa tự do sáng tạo có được thật sự mở ra hay không.



© 2006 talawas



*************************



Công việc ba năm chậm một tuần thì sao có thể nói là thất bại?
Phỏng vấn Đỗ Thị Tuyết Mai do Thuận Thiên thực hiện
 
Image
Bà Đỗ Thị Tuyết Mai, giám đốc SOC

(Ảnh: Sài Gòn Tiếp thị Online)
Thuận Thiên: Bà có thể kể cho bạn đọc sơ lược quá trình hình thành và thực hiện dự án mỹ thuật “Sài Gòn Thành phố mở” (SOC) diễn ra như thế nào?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Phải nói cho có đầu đuôi một chút. Tiền thân của dự án SOC là dự án Saigon Biennale. Ý tưởng này xuất phát từ việc tôi muốn lấy tinh thần của biennale mỹ thuật đã có ở nhiều nơi trên thế giới để tạo một sinh hoạt văn hoá mỹ thuật 2 năm một lần cho Việt Nam. Biennale Venise có từ cuối thế kỷ XIX, sau đó ý tưởng biennale lan toả sang các nước phát triển từ sau Thế chiến 2, các thành phố lớn ở phương Tây sử dụng nó như một mô hình văn hoá. Những năm 1980, 1990 thì lan sang châu Á; các biennale Pusan, Seoul, Thượng Hải, Bắc Kinh… đã ghi được dấu ấn trong thế giới mỹ thuật quốc tế. Tôi mong muốn tạo được một sự kiện tương tự cho nước mình, trong bối cảnh mỹ thuật Việt Nam đã chuyển mạnh trên tinh thần đương đại và hoà nhập với mỹ thuật khu vực và thế giới.



Thuận Thiên: Vậy thì hai lần “thất bại”, theo chữ dùng của chính bà trong buổi toạ đàm tại Studio SOC, của Saigon Biennale, chủ yếu là do đâu?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Chủ yếu là do người ta chưa hình dung được đúng tinh thần của nó. Một định kiến chính thống cho rằng một hoạt động mang tính định kỳ của nghệ thuật như thế phải do các tổ chức chính thống của nhà nước (như Bộ Văn hoá, Hội Mỹ thuật) đứng ra, kiểu như Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 5 năm một lần ấy. Người ta khó chấp nhận một tổ chức phi chính phủ lại được phép đảm nhận một công việc như thế. Nhưng thực ra, biennale cũng chỉ là một hoạt động nghệ thuật như rất nhiều hoạt động khác, nó không có tham vọng quy tụ những tác phẩm tiêu biểu nhất trong một thời kỳ như các triển lãm định kỳ của các cơ quan chính thức.



Thuận Thiên: Có thể người ta dị ứng vì bà là người kinh doanh từ lĩnh vực khác bây giờ lại nhảy vào mỹ thuật?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Tôi có quá trình làm việc về mỹ thuật đấy chứ. Khởi đầu từ năm 1998, do tò mò, trong một chuyến ra Hà Nội tôi đến xem hoạt động của Nhà sàn. Tôi rất ấn tượng với những gì diễn ra ở đó, nhưng lại thắc mắc tại sao những hoạt động mỹ thuật đương đại ở đây diễn ra trong một không khí không thoải mái, luôn luôn có dư luận không đồng tình, nhất là từ phía chính thống. Sau khi sang New York, tôi cảm nhận được đời sống mạnh mẽ, phong phú của mỹ thuật đương đại ở đó, và thấy các nghệ sĩ được xã hội ủng hộ rất nhiệt tình. Về nước, tôi quyết định mở gallery để hỗ trợ các nghệ sĩ nước mình làm việc, thể nghiệm; tôi ưu tiên cho các nghệ sĩ không được chấp nhận ở các gallery khác. Công việc của tôi được một số tổ chức phi chính phủ ủng hộ, chính họ gợi ý tôi làm đơn xin tài trợ để hoạt động, nhắm phát triển mạnh hơn nghệ thuật đương đại ở TPHCM (đang thua sút so với Hà Nội).



Thuận Thiên: Nhưng một số hoạ sĩ có uy tín sau một thời gian ngắn cộng tác với bà đều rút lui, vì sao?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Trước nhất là vì họ không đủ kiên trì, quyết tâm. Đây là một dự án lớn lần đầu tiên được thiết kế ra ở Việt Nam cho nên những khó khăn, phức tạp là dễ hiểu. Khi tôi đưa ra dự án, ai cũng bảo là rất hay, perfect, nhưng chỉ dám chúc cho tôi thành công mà thôi chứ không ai dấn thân vào. Một mình tôi quyết đeo bám đến cùng. Chính vì thấy tôi quyết tâm cao mà Quỹ Ford quyết định tài trợ cho dự án của tôi. Thứ hai nữa là một số người khi thấy có sự chuyển đổi ý tưởng từ Saigon Biennale sang “Sài Gòn Thành phố mở” thì không mặn mà nữa. Chúng tôi cứ phải tìm người hợp tác rồi loại trừ dần để cuối cùng có sự đồng thuận. Nhóm cộng tác sau chót là một nhóm có chất lượng: Tôi là giám đốc dự án là người có kinh nghiệm quản lý và kế toán; curator là hai người Thái Lan (chị Gridthiya Gaweewong và anh Rirkrit Tiravanija) có kinh nghiệm chuyên môn, có khả năng mời các hoạ sĩ quốc tế, cũng có thể giúp tìm nguồn tài trợ; cố vấn nghệ thuật là các anh Trần Lương (Hà Nội) và Lê Quang Đỉnh (Việt kiều về làm việc tại TPHCM) đều đã thành công trong các hoạt động sáng tạo và tổ chức mỹ thuật đương đại.



Thuận Thiên: Có nhiều ý kiến về chủ đề “Giải phóng, Thống nhất, Tái thiết”. Chủ đề ấy có phải do các curator Thái Lan đưa ra, và có phải nhắm mục đích dễ xin giấy phép?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Chủ đề và tên các chương (chapter) do các curator đề xuất nhưng được sự chấp thuận của cả ban tổ chức. Hoàn toàn không phải để đối phó với chính quyền mà vì chúng tôi muốn đặt các hoạt động mỹ thuật trong một bối cảnh lịch sử. Mỹ thuật không thể tách rời lịch sử. Chúng tôi tạm lấy những mốc thời điểm để chuyển tải ý tưởng về sự gắn kết ba thế hệ hoạ sĩ. Đương đại không chỉ là của lớp trẻ, hay của phương Tây, hay là cái gì quái dị. Đương đại là cái mà mọi người xem hôm nay. Chúng tôi muốn đưa ra một bức tranh phong phú về mỹ thuật đương đại để các thế hệ thấy chỗ đứng của mình trong đó, và tương tác, bàn luận. Nếu nói chạy theo chính trị thì ngay từ khi có sự kiện Việt Nam chuẩn bị vào WTO và làm chủ hội nghị APEC chúng tôi cũng kịp chuyển đổi chủ đề. Chính Sở Văn hoá Thông tin cũng có vẻ thắc mắc về chủ đề trên. Nhưng chúng tôi không chạy theo chính trị. Nhiều người phản ứng cái tên chúng tôi đưa ra, vậy xin ai đó thử giúp đặt một tên khác hay hơn!



Thuận Thiên: Vì sao có việc các hoạ sĩ Sài Gòn cũ, một lực lượng không thể bỏ qua trong toàn cảnh mỹ thuật đương đại Việt Nam, không có mặt trong sự kiện “gắn với lịch sử” này?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Có lẽ do thời gian quá ngắn nên các curator chưa khảo sát đầy đủ các lực lượng sáng tác. Thời gian tới, với hai chapter còn lại, hy vọng mọi điều sẽ được giải đáp hết.



Thuận Thiên: Theo thông báo do SOC đưa ra thì có những tác phẩm của nhiều tác giả nổi tiếng thế giới tham dự sự kiện. Sự thực ra sao?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Chắc chắn là có các tác phẩm (chủ yếu là poster, ảnh chụp và video) của Yoko Ono (Nhật-Mỹ), Joseph Beuys (Đức), Ursula Reuter & Henning Christiansen (Đan Mạch), Martha Rosler (Mỹ), Nancy Spero (Mỹ), Chris Marker (Pháp), Christelle Lheureux (Pháp), Jean Luc Godart (Pháp-Thụy Sĩ)… Trường hợp Yoko Ono thì đây là lần đầu tiên, chưa có tiền lệ, 4 tác phẩm video (Imagine Peace, Bed-in, War is over if you want it, Onochor) được tác giả lớn này nhượng quyền sử dụng mà không thu phí.



Thuận Thiên: Rõ ràng là cảm giác thất bại của sự kiện SOC chủ yếu là do nó đã không khai mạc được đúng thời điểm như đã thông báo, tạo nên sự hẫng hụt từ phía những người trông đợi, và không tạo được sự hưởng ứng của công chúng. Công tác chuẩn bị của ban tổ chức, đặc biệt là trong khâu xin giấy phép, có vấn đề chăng?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Thực tình là thời gian chuẩn bị quá gấp gáp, mà lại là lần đầu tiên chuẩn bị cho sự kiện quốc tế lớn thế này, nên mọi thiếu sót đều có thể. Chúng tôi khởi động từ ba năm, nhưng thực sự bắt tay tổ chức cho sự kiện thì mới từ tháng 1/2006, khi các curator bàn bạc lần đầu. Tháng 7 họ mới sang khảo sát lần thứ nhất, và lần thứ hai là vào tháng 9. Việc xin giấp phép cũng thế. Chuẩn bị hồ sơ cho 60 nghệ sĩ (có 21 người nước ngoài), hơn 300 tác phẩm từ nhiều nguồn, nhiều phương tiện (nhất là phim video, có phim dài hơn 1 giờ phải đưa ra trung ương duyệt), mà nội dung thông tin phải cung cấp cho cơ quan duyệt (Sở Văn hoá Thông tin TPHCM) lại vượt quá sự hình dung của ban tổ chức. Chúng tôi xin giấy phép từ giữa tháng 10/2006, nhưng đầu tháng 11/2006 lại phải bổ sung một số tác phẩm mới do một số tác giả nước ngoài đến lúc ấy mới quyết định tham dự. Do đó qui trình thủ tục xin cấp phép có khiếm khuyết. Cơ quan cấp phép hoàn toàn ủng hộ, nhưng với một khối lượng lớn tác phẩm, họ phải làm việc quần quật trong một tháng mà vẫn không xuể. Hơn nữa, trước một sự kiện lớn thế này, họ muốn “chậm lại một nhịp”, đó là sự thận trọng có thể hiểu được của người chịu trách nhiệm. Lỗi của ban tổ chức là quá nóng lòng để khai mạc sự kiện do có nhiều sức ép, nên đã không đủ tỉnh táo để định một ngày khai mạc an toàn hơn. Đến bây giờ thì tôi cảm thấy ngày khai mạc có thể lui đến lúc nào cũng không còn là vấn đề nữa.



Thuận Thiên: Việc các curator chỉ chọn tác phẩm cũ để giới thiệu có phải do kinh phí hạn hẹp?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Đó cũng là một nguyên nhân quan trọng. Tổng kinh phí của dự án là 200.000 USD, trong khi một dự án nghệ thuật bình thường của Hàn Quốc có kinh phí 2 triệu USD, kinh phí của Biennale Singapore vừa diễn ra là 12 triệu USD. Có những khoản chi chưa từng được biết đến ở các triển lãm mỹ thuật đã có tại Việt Nam, thí dụ việc mua bảo hiểm cho toàn bộ các tác phẩm tham dự. Có những tác phẩm giá trị bảo hiểm tới 150.000 USD (ảnh của Martha, nghệ sĩ Mỹ), 200.000 USD (tượng của Montien, Thái Lan). Các tác phẩm trong nước cũng được bảo hiểm (như tác phẩm Mâm của Ly Hoàng Ly có giá trị bảo hiểm 8000 USD).



Thuận Thiên: Cho đến hôm nay (1/12/2006), theo bà, dự án SOC đã thành công và thất bại ở những điểm nào?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Một dự án khai triển trong 3 năm mà chậm 1 tuần thì không thể nói là thất bại. Ngược lại, tôi khẳng định nó đã thành công. Vì nó đang xây dựng được cơ sở hạ tầng của hoạt động mỹ thuật đương đại, qua việc xây dựng studio SOC, việc đưa vào những phương pháp treo tranh, bố trí ánh sáng hiện đại cho các bảo tàng… Vì nó đang xây dựng được cung cách suy nghĩ và ứng xử của mọi thành phần xã hội đối với mỹ thuật đương đại. Từ nhà quản lý, đến các nghệ sĩ, người yêu thích nghệ thuật đều được tác động bởi sự kiện này. Mọi người đã đến để suy nghĩ, mắng mỏ, chê bai, hay động viên, tất cả đều là rất tốt. Sự kiện này đã đánh động đến mọi người. Ai cũng biết rằng để nghệ thuật đương đại được sự ủng hộ của cả xã hội Việt Nam, cần có một lộ trình. Trên lộ trình đó, những bất cập, bất đồng là điều có thể dự kiến. SOC không nhắm tôn vinh một cá nhân, không đem lại lợi ích riêng tư cho ai, mà đã đem lại một sự kiện văn hoá. Vậy là nó thành công.



Thuận Thiên: Xin cảm ơn sự hợp tác của bà.



© 2006 talawas

Freitag, 24. November 2006

Angel




A dancer from Aterballeto, Fondazione Nazionale Della Danza.

Montag, 20. November 2006

Glückskinder




Glück und Liebe

Samstag, 18. November 2006

Putin and Russian airplanes




What do you think about this Russian airplane made from scrap metal?



Yes, Russian technology. This is the reason why many Russian airplanes crash and why I never flight with a Russian one.



Poor you, Putin!



Photo by VietnamNet (c) 2006. Putin arriving in Noi Bai airport, Hanoi, Vietnam.

Mittwoch, 15. November 2006

Stalker

Đà Nẵng ngày 15/1/86



Chị Lê Vân yêu mến!



Khi em viết thư này cho chị tức là lúc tình cảm của em đã lên tới tột đỉnh. Con người ta thường có những lúc không thể tự kìm chế được mình. Và giờ đây em đang lâm vào tình trạng đó. Em không thể yên lặng được nữa, em không thể cứ giữ kín mãi trong lòng tất cả những gì bấy lâu nay em đã dành cho chị, em đã nghĩ về chị.



Chị Vân ạ, chị có biết chị là như thế nào đối với em không? Giá như chị biết được rằng em đã quí mến chị đến chừng nào. Cuộc sống của em trong thời gian gần đây dường như không thể thiếu được bóng dáng thân thương của chị.



Mỗi một ngày em không thể không nghĩ đến chị. Có những đêm em nằm mơ thấy chị đang sống ngay trong gia đình em, em thấy được cả nỗi vui sướng của em khi được sống gần chị (nhưng tiếc thay những giấc mơ cũng chỉ là những giấc mơ).



Hình ảnh của chị đã theo em vào trong các giờ ăn, giấc ngủ và cả khi đến lớp. Có hôm, em đã bị cô giáo khiển trách vì cái tội không chú ý nghe giảng, hay nghĩ ngợi. Thế đấy! Mọi người nhìn em một cách khó hiểu, họ cho rằng em đang yêu. Vâng! Đúng vậy, em đang yêu, yêu một cách say đắm. Và người mà em yêu đó chính là chị.



Tất cả được bắt đầu từ cái ngày em xem bộ phim Chị Dậu, lần đầu tiên em đã khóc khi xem một phim Việt Nam.



Sau cái hôm đáng nhớ ấy, em đã đem lòng mến phục người diễn viên có tên Lê Vân, người em gặp lần đầu tiên trên màn ảnh, và em cứ tự hỏi: không biết chị ấy là ai? Sao chị ấy lại nhập vai một cách tuyệt vời vậy? Thế rồi không chịu được với những câu hỏi đó, em đã đến các quầy báo tìm mua tất cả các báo có nói về chị, bất kể là báo gì, số mới hay cũ. Chị biết không, em đã vồ lấy những bài báo đó cứ như là bắt được báu vật ấy. Thì ra, em là một đứa ngu ngốc, em đã bỏ lỡ những bộ phim trước đây chị đã đóng. Em cứ tiếc mãi và tự trách mình đáng lý ra phải biết về chị sớm hơn mới phải.



Nhờ những bài báo đó, em biết được chị hiện là một trong những diễn viên chính của Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, là con gái của nghệ sĩ ưu tú Trần Tiến, người mà em đã biết từ lâu qua các vở kịch nói trung ương xem ở truyền hình. Em thật sự kinh ngạc và thầm thán phục khi biết chị là diễn viên ballet. Thật không có gì sung sướng bằng được biết những điều tốt đẹp về một người mà mình đã sẵn lòng yêu mến. Từ đó em thường xuyên theo dõi báo chí để luôn được biết về chị, để không bỏ sót một hoạt động nghệ thuật nào của chị. Em hi vọng và chờ đợi đến một ngày được xem lại chị.



Cứ thế, hai năm trôi qua (1983-1985), một hôm em đọc được trong cuốn Điểm phim giới thiệu về bộ phim có cái tên Bao giờ cho đến tháng Mười và ở phần giới thiệu diễn viên, em nhìn thấy hai chữ Lê Vân. Trời ơi! Chị không thể hình dung là em đã vui mừng đến chừng nào đâu. Khi bộ phim được chiếu ở Đà Nẵng, em đã có mặt vào buổi chiếu đầu tiên. Lần đó em đã khóc, khóc rất nhiều. Nhưng không phải chỉ một lần thôi, em đã xem bộ phim đến ba lần và đến lần thứ ba em vẫn không sao cầm được nước mắt. Làm sao có thể không khóc được ở những đoạn chị đứng sau vách cố nghiến răng, nén lòng, kìm những tiếng nấc khi nghe đọc bức thư để đến lúc nằm một mình chị lại trằn trọc vật vã với đau khổ; ở đoạn chị phải diễn chèo để cố quên đi nỗi đau đang vò xé trong lòng, rồi phải bỏ chạy khi quá bức xúc (ở đoạn này, tuy là diễn chèo nhưng em vẫn thấy ở chị có một cái gì đó rất "ballet"). Và nhất là ở đoạn cuối, khi bố chồng mất, em đã khóc nức nở cùng chị, đây cũng là đỉnh điểm cảm xúc trong em. Chị Vân ơi, chị hãy nói cho em biết vì sao chị có thể diễn xuất một cách "xuất thần" đến vậy? Chị đã diễn chèo không kém gì một diễn viên chèo thực thụ. Lần đầu tiên xem phim này, em đã không ngần ngại đánh giá rằng, đây là bộ phim hay nhất trong những phim Việt Nam mà em đã xem. Đó là nhờ vào diễn xuất của chị và tất nhiên phải kể đến tài đạo diễn của chú Đặng Nhật Minh và sự "đều tay" của các diễn viên khác. Nhưng em bảo đảm là bộ phim này sẽ không thành công nếu như vai Duyên được giao cho một diễn viên khác (ở đây em nói hoàn toàn khách quan). Không ai có thể thay thế Lê Vân trong vai này được. Có lẽ khi viết kịch bản, chú Đặng Nhật Minh đã dành sẵn vai này cho chị thì phải. Hình ảnh của chị trong phim mà em thích nhất là lúc chị Duyên còn con gái, kẹp hai chùm tóc hai bên, cùng chạy chơi với anh Nam ngoài bờ sông và lúc chị Duyên cùng con trai thả diều trên đồi. Những lúc đó chị thật là đáng yêu làm sao!



Trước đây em đã mến phục chị qua phim Chị Dậu nhưng một cách âm thầm và kín đáo. Cũng sau này, với Bao giờ cho đến tháng Mười em không thể âm thầm được nữa.



Vậy là đi đâu em cũng "ca" chị, đến nỗi bạn bè và anh chị của em đã phai gọi đùa với em là "Lê Vân của mày". Phải! Chị là của em. Em rất sung sướng mỗi khi nghe mọi người gọi như vậy. Và từ đó tình cảm của em đối với chị ngày càng thắm thiết hơn. Càng thương cho số phận của chị Dậu bao nhiêu, càng thông cảm cho nỗi đau của chị Duyên bao nhiêu, em càng yêu thương và quí mến chị bấy nhiêu. Em ôm ấp một ước muốn là một ngày nào đó sẽ được nhìn thấy chị ở ngoài đời, được nhìn thấy chị Lê Vân mà em đã đem lòng yêu mến.



Và rồi cái ngày đó đã đến.



Vào một ngày đầu tháng tư năm tám sáu, khi tình cờ đi ngang qua nhà hát Trưng Vương (nhà hát duy nhất của Đà Nẵng), em nhìn thấy một dải băng trắng giăng ngang, trên đó có dòng chữ "Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam" và xung quanh là những tấm biển quảng cáo, giới thiệu các vở ballet.



Lúc đó em liền nghĩ ngay đến chị và vội dừng xe lại. Quả thật, em đã đoán không sai, trên tấm bảng giới thiệu các diễn viên, em đã tìm thấy tên Trần Lê Vân. Em mừng quá, đến nỗi không biết nên quay xe về hướng nào. "Nhưng làm thế nào bây giờ? Chị ấy hiện đang ở đâu?", em tự hỏi. Và thế là, đáng lý ra em phải đi công việc của em thì em lại xách xe chạy như điên như dại đến các khách sạn mà các đoàn nghệ thuật thường hay trọ. Nhưng em đã thất vọng, em không tìm ra đoàn ballet, em không tìm ra chị đâu cả. Quay trở lại nhà hát, em hỏi người ta thì được biết: "Họ mới để bảng vậy chứ chưa diễn". Em trở về với vẻ mặt tiu nghỉu.



Sáng hôm sau, em chở má đi chợ, cái chợ đó nằm trên đường Hải Phòng (gọi là chợ Tam Giác) cách không xa ga Đà Nẵng. Em dựng xe ở ngoài chợ đợi má em. Lúc này em lại nghĩ đến cách tìm gặp chị, ngẩng lên, bất chợt em nhìn thấy có bốn chị có lẽ là vừa từ bên kia đường bước qua. Trong số bốn chị đó, em thấy có một chị tóc thả dài thẳng mượt, mặc chiếc áo may kiểu "sô" hình như là màu vàng nhạt, mắt mang một đôi kính râm. Nhưng em chỉ thấy thoáng qua trong nháy mắt thì các chị đó đã khuất vào trong chợ. "Họ là ai vậy nhỉ? Không có lẽ họ là những người mà mình đang tìm, bởi vì họ ăn mặc giản dị bình thường như mọi người. Và nếu là nghệ sĩ, họ đến các chợ lớn chứ vào cái chợ ‘dởm’ này làm gì?".



Sáng hôm sau nữa, em lại ra chợ để mua một ít trái cây. Chợ trái cây nằm đối diện với cái chợ hôm qua em đã đứng. Sau khi mua xong, chuẩn bị quay về, thì… "Trông kìa, đúng là bốn chị ngày hôm qua rồi!" Em tự nhủ. Họ đang từ chợ bên kia bước qua đường tiến về phía em. Lần này, em có dịp quan sát kỹ hơn. "Đúng là 4 chị ấy rồi. Họ vẫn ăn mặc như hôm qua. Và nhìn kìa! Cái chị hôm qua mang đôi kính râm, bây giờ đã bỏ kính ra, trông chị ấy rất quen". Các chị đến gần em hơn. "Trời ơi! Chị Lê Vân". Em đưa tay dụi hai mắt, cố nhìn cho kỹ. "Chẳng lẽ Lê Vân là chị mang kính hôm qua đấy sao? Sao chị ấy trẻ vậy? Sao chị ấy bình dị quá vậy? Không một chút phấn son, áo quần không màu mè, lòe loẹt Nhưng không thể lầm lẫn được khuôn mặt ấy, từ mắt mũi miệng cho đến thân hình. Đúng là một "thân hình ballet".



"Đúng là chị Lê Vân rồi!". Các chị đi bộ về hướng ga Đà Nẵng, còn em thì "rà" xe đạp theo sau cho đến khi các chị rẽ vào khách sạn. Thì ra các chị trọ ở Khách sạn Đường sắt, một khách sạn bình dân mà chưa một đoàn nghệ thuật nào đến trọ cả. Bây giờ em mơi vỡ lẽ ra rằng các chị vào chợ Tam Giác để mua đường vì ở đây bán đường rẻ hơn các chợ khác, mà lại còn gần khách sạn nữa. Em trở về mà lòng vui như mở hội: "Thế là mình đã tìm ra chỗ ở của chị ấy!". Về đến nhà, em liền khoe với mọi người: "Em vừa nhìn thấy Lê Vân. Vâng! Chính mắt em trông thấy chị ấy đi ngoài chợ Tam Giác, chị "Lê Vân của em" ấy mà!". Ông anh trai em nói đùa: "Cứ như là vừa nhìn thấy tiên trên trời xuống vậy". Em đốp lại: "Chứ sao, chị ấy còn hơn cả tiên nữa kia!"



Tối hôm đó, khi biết đoàn ballet sẽ diễn đêm đầu tiên, em bèn mua bằng được hai cái vé… chợ đen, rủ chị của em cùng đi xem, bởi vì em quá nôn nóng muốn được xem chị diễn. Tối hôm sau, em lại được người ta cho 2 vé nữa nhưng ngồi tận trên lầu. Vậy là trong hai đêm liền, em được xem chị diễn các trích đoạn Spartacus, Giselle và ở vở Hồ thiên nga, các chị đông quá và giống nhau quá, em thì ngồi tận trên lầu nên em không tìm ra chị. Cứ mỗi lần nghe giới thiệu tên chị, em lại nín thở hồi hộp chờ đợi, và lần xuất hiện đầu tiên của chị, em đã đứng bật lên khỏi ghế cứ như là theo bản năng vậy. Trong các đoạn trích đó, em vẫn thích nhất chị trong vai người yêu của Spartacus chị diễn cùng với anh Lê An. Trong vai này chị thật là tuyệt đẹp (vì lúc đó em ngồi gần nên nhìn được chị rất rõ). Đây là lần đầu tiên em được xem ballet ngay sàn diễn.



Đối với em lâu nay, ballet vẫn là thứ nghệ thuật cao nhất trong tất cả các loại hình nghệ thuật, là "nghệ thuật bay trên mười đầu ngón chân". Nhưng cho đến khi được xem trực tiếp ở sàn diễn (chứ không phải qua truyền hình) mới thấy được cái "cao", cái khó, cái công phu của nó gấp trăm lần em tưởng.



Lúc đó mới thấy, sự lao động nghệ thuật của các nghệ sĩ ballet là cả một quá trình khổ luyện. Càng thấy được điều đó, em càng kính phục những nghệ sĩ ballet, trong đó có chị. Những người cống hiến đời mình cho nghệ thuật ballet, không còn nghi ngờ gì nữa, là những người yêu nghệ thuật thưc sự, những người nghệ sĩ chân chính. Em không bao giờ quên được những động tác uyển chuyển, những đường nét tuyệt vời của chị nói nêng và của tất cả các anh chị nói chung. Những động tác mà em nghĩ rằng, để có được các anh chị đã phải đổ biết bao công sức.



Về phần chị, chỉ riêng hoạt động nghệ thuật ballet của chị cũng đủ làm cho em khâm phục rồi, vậy mà chị còn là một ngôi sao của điện ảnh nữa, thật là hết chỗ nói.



Kể từ sáng hôm sau cái đêm xem chị diễn ấy cho đến ngày chị rời Đã Nẵng về Hà Nội, suốt nửa tháng trời, sáng nào em cũng có mặt trước cổng Khách sạn Đường sắt cả. Cứ mỗi buổi sáng, em lại đến đó, đợi đến lúc chị ra khỏi khách sạn là em đi theo chị. Em chỉ đi theo chị những lần chị đi bộ, còn bữa nào chị lên xe đi theo đoàn thì em chỉ còn biết đứng nhìn theo mà chịu chết. Cứ thế, em đã đi theo chị không rời một bước, chị đến đâu là em theo đó. Em đã theo chị vào các chợ khi chị mua quà để mang ra Hà Nội. Có một lần, chị dừng lại ở một hàng cá khô trong trung tâm thương nghiệp Đà Nẵng, lợi dụng lúc đông người, em tiến lại gần sát chị, em khẽ chạm vào người chị nhưng có lẽ chị không biết đâu.



Có khi chị đi cùng các chị kia, có khi chị đi một mình. Có hôm chị mặc chiếc áo sọc nhiều màu hình như là may kiểu bo ở lai, và tóc chị kẹp vén lên hai bên mang tai. Có hôm chị lại thả tóc và mang kính râm. Những ngày sau, em không để ý đến áo quần của chị nữa mà chỉ say sưa ngắm nhìn vẻ đẹp của chị. Một vẻ đẹp bình dị nhưng hết sức thánh thiện.



Có một buổi sáng, dù cho sự việc diễn ra cách đây đã 7 tháng, (kể từ ngày chị vào Đà Nẵng đến nay), em vẫn không sao quên được. Đó là buổi sáng của ngày 13 tháng 4, khoảng 7 giờ. Chị từ trong khách sạn đi ra cùng với một chị (hình như là chị Kiều Ngân hay chị Quý Ngân gì đó), không biết là các chị đã điểm tâm chưa? Hôm đó, chị mặc chiếc áo thun lưới màu kem, chiếc quần thun màu đen, ống nhỏ, hai bên đùi mỗi bên có một đường nhỏ màu trắng chạy dài từ lưng quần xuống đến lai, giống kiểu quần thể thao vậy. Chân chị mang đôi dép da quai lưới, và tóc chị kẹp cao ngược lên, để lộ ra chiếc cổ "ballet" trắng nõn. Chị kia chân mang dép nhựa Hà Nội, mặc chiếc quần Jean xanh đã bạc màu, tóc cuộn hai cuộn hai bên và mặc áo gì thì em không nhớ. Trông hai chị có vẻ "chịu chơi" lắm. Hai chị đi thẳng về phía chợ và rẽ vào chợ trái cây. Thì ra hai chị đi mua dưa hấu. Chị ngồi xuống chọn dưa. Vậy mà những người bán dưa đâu có biết rằng trước mặt họ là một chị Dậu, chị Duyên từng xuất hiện trên màn ảnh. Chỉ có một mình em biết điều đó. Lúc đó ước gì em là người bán dưa nhỉ, em sẽ biếu chị cả chục quả. Sau khi chọn xong, chị bảo bà bán dưa lấy dao xăm cho chị một miếng hình tam giác để chị xem thử. Cầm miếng dưa đỏ chót trên tay, chị từ từ đưa lên miệng nếm thử. Chị đâu biết rằng trong khi chị đang làm cái việc ấy thì có một kẻ đang nhìn chằm chằm vào chị. Phải, lúc đó em đang đứng cách chị 3 bước về phía bên phải. Em suýt bật cười khi nhìn thấy chị nếm dưa. Rồi chị đưa miếng dưa cho chị kia nếm thử nhưng chị kia lắc đầu và chị lắp miếng dưa vào chỗ cũ. Chị kia trả tiền, quả dưa khoảng 30, 35 đồng gì đó. Chị xách quả dưa lên phủi sạch cát rồi mang về. Chị đi rồi mà em cứ ngẩn người ra. Làm sao em có thể quên được cái động tác "nếm dưa hấu" hết sức dễ thương ấy…



Đó cũng là ngày cuối cùng em "theo dõi" chị. Bởi vì bắt đầu từ ngày hôm sau em phải học ngày hai buổi để chuẩn bị ôn thi. Chiều hôm đó, em bỗng dưng có ý định đến phòng chị ở để gặp chị, để được nói với chị những điều lâu nay em đã ấp ủ, để được nghe giọng nói của chi, để thoả mãn điều mà em đã mong muốn. Vậy là 3 giờ chiều ngày hôm ấy, em lại đến khách sạn. Nhưng khi đến nơi, em không thể bước tiếp được nữa, em bị lôi kéo lại bởi ý nghĩ. "Tại sao mình lại làm việc này? Mình đã suy nghĩ kỹ chưa? Con người ta có một cái vốn tối thiểu đó và lòng tự trọng. Nếu mình làm việc này tức là mình không biết tự trọng, mình không còn sĩ diện". Cuối cùng em đã quay về, em đã tự đấu tranh với chính mình rằng "Mình yêu thương, mình mến phục chị ấy thì việc mình đến gặp chị ấy có gì là xấu hổ, là mất sĩ diện đâu". Nghĩ vậy em lại trở lại khách sạn nhưng đến nơi thì lại quay về. Cứ thế trong hai, ba ngày, đến ba, bốn lần em vẫn không lên được phòng chị.



Chị Vân ạ, em không dám tự sánh mình với chị đâu. Đối với chị, em chỉ là một hạt cát, còn chị là vầng thái dương.



Giá như chỉ có chị và em. Nhưng ở đây chị hãy thông cảm cho em vì còn có người xung quanh nữa. Họ sẽ nghĩ gì về em khi thấy em bước vào phòng chị và nghe thấy những điều mà em sẽ nói với chị.



Mãi cho đến hôm em cùng các bạn vào chợ trái cây để mua đồ về liên hoan lớp. Em ngạc nhiên khi nhìn thấy các cô các chị trong đoàn ballet (mà em từng quen mặt mua dưa hấu rất nhiều. Có chị mua đến hai, ba quả. Em nghe một trong hai cô đứng gần đó nói với bà bán dưa rằng: "Năm, mười năm chúng tôi mới có dịp vào đây một lần. Chị bán cho tôi một quả rẻ rẻ để về làm quà cho chồng, cho con". Nhìn các cô các chị trả giá mà em thấy tội nghiệp. Ra đường lại thấy các chú các anh mua rổ rá bằng nhựa cũng nhiều. Lúc đó em nhớ đến chị. "Không biết chị Vân đã mua dưa chưa nhỉ? Vậy là sáng mai chị ấy trở về Hà Nội. Chiều nay nhất định mình sẽ đến chỗ chị ấy rồi ra sao thì ra". Như đã quyết định, chiều hôm đó em mua một bó hoa thật tươi, thật đẹp bỏ vào trong một cái giỏ bằng mây để không ai nhìn thấy và mang thẳng đến khách san. Nhưng đến nơi thì… hỡi ôi! Em nhận được một cái tin rất buồn: chị đã đi rồi, tất cả đã đi hết rồi. Lúc đó, em tức đến gần khóc. Và đêm hôm đó, lần đầu tiên, em đã trằn trọc không ngủ được. Buổi chiều buồn đáng nhớ ấy là chiều ngày 18/4.



Em vốn là con trong một gia đình trí thức, mà trí thức thì chị biết rồi đấy. Rất nghèo. Bởi vậy em rất yêu những con người bình dị, nhất là nghệ sĩ bình dị. Và em cũng rất yêu nghệ thuật, vì vậy em rất tôn trọng những người làm nghệ thuật. Sau này càng nghĩ, em càng thấy thương đoàn ballet của chị: người thì đông, phải trọ khách sạn bình dân, lao động thì khổ nhọc, tiền lương của mỗi anh chị cho mỗi đêm diễn, theo em biết, rất ít. Đến cả phương tiện vận chuyển cũng không có, cả đoàn chi có một chiếc xe du lịch, để các anh chị phải đi bằng tàu lửa. (Có những hôm ở khách sạn, em nhìn thấy trên chiếc xe du lịch đó, một số các anh chị thì ngồi còn một số phải đứng, chật ních). Đồ trang phục múa thì đã cũ. Và em biết bản thân mỗi nghệ sĩ trong đoàn cũng nghèo. Nhưng có một điều chắc chắn là tâm hồn của các anh chị rất "không nghèo". Trong một hoàn cảnh như vậy mà các anh các chị đã đem hết công sức của mình để cống hiến cho nghệ thuật. Và kết quả là chất lượng nghệ thuật rất cao. Cho đến bây giờ em vẫn không quên được trình độ chơi nhạc tuyệt vời của dàn nhạc, sự tạo hình tuyệt đẹp trong các động tác ballet.



Đối với em, một nghệ sĩ chân chính phải là một con người vừa có tài, vừa có đức. "Một người đi từ xa mà mọi người đều biết rằng đó là một nghệ sĩ thì người đó không phải là nghệ sĩ".



Những thiên tài thường là những người không ai biết họ là ai cả. Có không ít những diễn viên, ca sĩ khi ra đường đã tập trung sự chú ý của mọi người bằng cách bôi son, trét phấn vào cho nhiều, ăn mặc thì lòe loẹt khác thường. Hôm nay thì người này đưa bằng loại xe này, ngày mai thì ngyời kia rước bằng loại xe khác. Rồi họ vào các nhà hàng ăn uống nhậu nhẹt… Đối với em, những người trác táng đó, xin lỗi chị, họ chỉ là loại "diễn viên ba xu" mà thôi. Chính họ là những con sâu mọt và gây nên những ấn tượng không tốt, những điều tiếng không hay mà quần chúng đã "dành" cho giới nghệ sĩ.



Còn với chị, em đã yêu chị ở cái vẻ bình dị chân chất của chị (chứ không phải của nhân vật) qua hai phim em đã xem. Chính sự bình dị đó cộng với tài diễn xuất độc đáo của chị đã cảm hoá được em. Đã yêu mến và kính phục chị qua các hoạt động nghệ thuật của chị, em lại càng yêu mến chị hơn khi được nhìn thấy chị ngoài đời, chị vẫn mang cái vẻ bình dị đáng yêu ấy. Càng yêu chị, em càng muốn biết rõ về chị, về đời sống của chị và gia đình chị. Em đã tìm hiểu về chị rất cặn kẽ qua báo chí. Nhờ vậy em được biết chị sống trong một gia đình rất tuyệt vời. Em còn biết là trong các giờ rỗi, chị nhận đồ gia công về để làm thêm giúp đỡ gia đình.



Em biết, mỗi buổi sáng, chị điểm tâm bằng thức gì trước khi đến sàn múa, và ngoài ra, chị còn là một "tay đầu bếp" chính của gia đình nữa. Bấy nhiêu thôi cũng đủ để em biết rõ về đời sống giản dị bình thường của chị.



Chị Vân ạ, ngoài tình yêu và lòng mến phục dành cho chị, ở em còn có một sự kính trọng. Em kính trọng những phẩm chất mà chị mang trong người để đạt đến mức hoàn thiện của một người nghệ sĩ chân chính, những phẩm chất mà những "diễn viên ba xu" ấy không bao giờ có được. Chị là một con người bình thường nhưng chẳng tầm thường tí nào cả.



Chị biết không, vì quá yêu chị nên em đã đem lòng ghen tị với bạn bè, với những đồng nghiệp của chị, với những người làm phim, các đạo diễn, và thậm chí cả với những người thân, người ruột thịt của chị nữa kia. Bởi vì họ được gặp tiếp xúc với chị hàng ngày. Còn em, tại sao em không có được cái diễm phúc như họ dù chỉ một lần để được nghe thấy tiếng nói của chị? Cũng vì yêu chị cho nên hiện giờ trong các ngăn tủ của em có không biết bao nhiêu là các bài báo nói về chị, phỏng vấn chị, từ các tạp chí Tổ quốc, Điện ảnh Việt Nam, Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, Điểm phim cho đến các loại báo tờ như Văn hoá nghệ thuật, Tiền phong, Nhân dân, Quân đội, Hà Nội mới, v.v…



Trong đó em thích nhất bài trả lời phỏng vấn rất sâu sắc và khiêm tốn của chị mang tựa đề "Hãy giữ lại những gì cần giữ lại ở tạp chí Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh.



Một hôm đi chợ, tình cờ em thấy một gói hàng của một bà bán hàng gói bằng tờ báo trên đó có hình của chị. Lập tức, em chạy đi mua một tờ báo cũ vào và xin bà ta đổi cho em tờ báo đó. Rồi em quay về ủi (là) thẳng cất vào ngăn tủ. Những tấm hình của chị em hiện đang có, em không thể nào đếm hết được. Em chỉ nhớ một tấm hình đáng yêu nhất là tấm hình chị chụp dưới tháp Eiffel, Paris, chị mặc chiếc áo có hai tay dài màu đen, thân màu trắng có chấm hột. Trước đấy, khi chưa biết chị em cũng rất thích nữ diễn viên ballet kiêm điện ảnh của Liên Xô Galina Beliaieva, ai ngờ đó cũng là người mà chị yêu thích. Một sự trùng hợp hết sức thú vị. Yêu chị nên em yêu những gì chị lao động tạo nên, yêu những gì chị yêu thích. Em đã vui mừng đến tột đỉnh khi biết tin chị đạt được giải "Diễn viên nữ xuất sắc nhất" trong Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 7 và chị được các nhà điện ảnh nước ngoài khen ngợi khi họ xem bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười" (tại Pháp và Mỹ).



Cách đây 2 tuần, em xem phim Toạ độ chết, lại cũng cái vẻ bình dị ấy của chị. Sao chị đóng toàn những vai buồn quá vậy Vai nào cũng là một người vơ, một người mẹ đau khổ. Ở phim này, chị nói rằng, chị đóng một vai phụ, chắc có lẽ là chị quá khiêm tốn đấy, chứ em thấy chẳng phụ tí nào cả. Vì phim này không có nhân vật chính, nên về phía Việt Nam, chị là chính rồi chứ còn gì. À, chị cũng hay đóng chung với anh Đặng Việt Bảo nhỉ. Chị lại cùng kéo cờ khai mạc Liên hoan phim với anh ấy nữa.



Trong một bài báo viết về chị có đoạn: "Người ta đặt cho Lê Vân rất nhiều câu hỏi, vì sao một người nhỏ, lớn sống ở Hà Nội, chưa chồng con lại sống thật sinh động cuộc sống của phụ nữ vùng quê như vậy? Đó là do tài năng thu nhận cuộc sống của người diễn viên. Lê Vân rất thông minh trong việc nắm bắt những cái cơ bản cần thiết của nhân vật. Khả năng tư duy cộng với lòng yêu nghề chân thành trong sáng, đã giúp Lê Vân liên tiếp có được những thành đạt như vừa qua". Đó cũng là ý kiến của em.



Bây giờ cho phép em được nói về những người thân của chị, những người mà đối với em cũng không kém phần yêu mến và kính trọng. Trước tiên, em xin nói về bác trai, bố của chị: em đã được xem bác đóng rất nhiềư vai (qua truyền hình), có lẽ bắt đầu từ vở kịch Hoàng Lang. Hồi cuối năm 85 hoặc đầu năm 86 gì đó, bác đã cùng đoàn kịch nói Trung ương vào Đà Nẵng diễn vở Nhân danh công lý, bác đã làm em sửng sốt trong vai Tảo sẹo. Bác diễn vai này hay quá. Một diễn viên trẻ tuổi có tài đến mấy cũng không thể diễn như bác được sau đó mấy hôm, em nhìn thấy bác đứng ở ngã tư gần nhà hát, bác đang đợi ai đấy. Bác mặc quần Jean xanh và áo sơ mi trắng. Em đi vòng ra phía sau để dễ dàng nhìn bác, em nhìn bác rất lâu. Trông bác vẫn còn "phong độ" lắm. Bất chợt bác quay lại, bắt gặp cái nhìn của em, bác mỉm cười với em và em cũng cười đáp lại nhưng hơi lúng túng. Lúc đó em chỉ muốn chạy lại hỏi thăm bác về chị, nhưng không hiểu vì sao chân em cứ như là bị đóng đinh. Gần đây, vào cuối tháng bảy, đầu tháng tám, bác lại vào Đà Nẵng, cũng vẫn diễn vở Nhân danh công lý. và thêm vở Người cha thô bạo, nhưng trong thời gian này em đang ở Sài Gòn. Khi về biết tin này em rất tiếc. Khoảng một tháng sau, em được xem Người cha thô bạo ở truyền hình. Mỗi lần bác xuất hiện với điệu bộ hai tay đút túi quần, cổ rụt xuống, hai vai nhô lên, em không thể nhịn được cười. Và cách đây mẩy hôm, em lại xem bác trong một vở kịch ngắn về kế hoạch sinh đẻ, chị vợ đang trên bàn sinh kêu rên "chồng ơi là chồng". Lúc đó liền chiếu qua cảnh anh chồng đang say rượu, rầu rĩ, buồn bã vì quá đông con (vai này do bác đóng, em lại một lần nữa cười đến vỡ bụng).



Bác gái cũng xuất hiện rất nhiều trong các vở kịch ngắn, nhưng trước đây em chưa biết bác là mẹ của chị. Gần đây em chỉ nhớ bác qua các vớ Chập cheng trong vai bà lên đồng, Đường anh đã chọn vai người mẹ… Còn chị Lê Khanh, em đã xem chị ấy đóng cùng bác gái trong vở Nỗi đau ngọt ngào của Ấn Độ (có chú Đức Trung đóng vai cha và anh Anh Dũng). Không biết có phải chị ấy đã xuất hiện trong vở Ngày 10/10/54 không? Và không biết có phải chị ấy đã đóng vai Juliette cùng với chú Đức Trung (Romeo) khi mà đoàn kịch Nhà hát Tuổi trẻ về Đà Nẵng cách đây hơn 1 năm không? Bởi vì lúc đó em chưa biết chị ấy là Lê Khanh.



Qua báo chí, em cũng biết chị Lê Khanh đã đóng trong các vở Đỉnh cao mơ ướcChim sơn ca, nhưng em chưa được xem. Còn chị Lê Vi, em chỉ biết chị dang đi theo con đường của chị Vân, chứ em chưa được xem chị diễn, vì chị còn đang học. Và em biết cả cậu Lê Chúc của chị nữa đấy.



Vậy là hiện giờ, em đang giữ một tấm hình của bác trai (hình in trong báo), một tấm hình của cậu Lê Chúc, một tấm hình bác gái chụp chung với ba chị, trong này, cả ba chị đều giống mẹ như đúc. Và bốn tấm hình của chị Khanh, hai tấm hình chị Vi, mặc dầu ở hai tấm này, người ta đều ghi: học sinh trường múa trung ương nhưng em vẫn nhận ra chị Vi ngay. Còn hình chị Vân thì nhiều quá em không đếm hết. Có một điều em nhận thấy ở chị Vân và chị Khanh là: Cả hai chị đều có một vẻ đẹp thánh thiện, cả hai chị đều giống Juliette. Có lẽ vì vậy mà đạo diễn đã chọn chị Khanh thể hiện nhân vật Juliette và Jeanne d’Arc.



Gia đình chị thật là hạnh phúc, em rất muốn được sống trong một gia đình như vậy. Em đã đặt tên cho gia đình chị là một "Gia đình nghệ sĩ chân chính", một "Tổ ấm tài năng và hạnh phúc".



Chị Vân yêu mến!



Đối với chị, có thể đây chỉ là một bức thư "tỏ tình" hết sức vụng về của một cô gái 18 tuổi. Còn với em, toàn bộ bức thư này là một sự thật, là tất cả những tình cảm bấy lâu nay em cứ bị dồn nén mãi cho đến bây giờ mới được bộc lộ. Một sự thật em sẽ mang theo suốt cuộc đời mình. Chị biết không, các anh chị của em cũng rất mến mộ tài năng của chị và những người trong gia đình chị, nhưng họ không có "cuồng nhiệt" như em. Phải! Em cuồng nhiệt bởi vì ở em không chỉ có lòng mến mộ, mà em còn yêu chị nữa, em yêu chị một cách say đắm. Nói vậy chắc cũng đủ để chị hiểu lòng em. Bây giờ, cho phép em dừng bút. Em rất muốn biết nhà chị ở phố nào? Để khi nào có dịp ra Hà Nội em sẽ tìm đến. Hoặc khi nào chị vào Đà Nẵng, em cũng sẽ tìm đến chị. Lần này, em sẽ dẹp bỏ tất cả mặc cảm để tìm đến chị.



Nhất định em sẽ tìm đến chị! Chị có cho phép em làm điều đó không? Chị có sẵn sàng tiếp đón em không? Xin chị hãy nói với bác trai và chị Khanh rằng, em cũng sẽ tìm đến bác và chị Khanh nếu như một trong hai người có dịp vào Đà Nẵng.



Chị Vân ạ, không hiểu sao em bỗng có một linh tính và hi vọng là một ngày nào đó em sẽ nhận được thư của chị, em sẽ được đọc những dòng chữ thân yêu mà em đang khao khát. Đó cũng là niềm hạnh phúc lớn lao đối với em. Nếu như niềm hi vọng đó sẽ trở thành nỗi tuyệt vọng thì… chắc là em sẽ buồn lắm đấy! Nhưng không sao. Dù sao đi nữa chị cũng vẫn là "Lê Vân của em", chị vẫn là thần tượng không bao giờ sụp đổ trong em. Dù sao đi nữa, em cũng vẫn giữ mãi những ấn tượng tốt về chị, em vẫn luôn dành những tình cảm tốt đẹp nhất cho chị, em vẫn trân trọng chúng như trân trọng những gì thiêng liêng nhất của đời em. Chắc chị biết nữ nghệ sĩ Mireille Mathieu? Người ta gọi bà ấy là "Người phụ nữ tượng trưng cho nước Pháp". Còn em, nếu sau này có ai hỏi em, thì em sẽ nói rằng: "Lê Vân, chị ấy là người phụ nữ tượng trưng cho nước Việt"



Cuối thư cho em gởi lời chúc đến hai bác và các chị.



Em chúc chị luôn đạt đển những đỉnh cao vinh quang của cả hai lãnh vực nghệ thuật mà chị đang cống hiến cả cuộc đời.



Hôn chị rất nhiều



Em, Tố Nguyệt



Em đã hôn lên những tấm hình của chị nhiều rồi. Và giờ đây em cũng đã hôn lên những trang giấy này, những nơi mà chị sẽ đặt tay lên cầm lấy bức thư.



*****



(Trích Lê Vân yêu và sống, Nxb Hội Nhà văn 2006)

www.talawas.de



*****

Personal impression: This letter is, according to Le Van, the only one fan letter which she still keeps to herself. It encourages my hypothesis that Le Van is a lesbian.

Mittwoch, 8. November 2006

Chansonière: Carla Bruni




She is my chanson idol of the decade. I spent my life in a Pariser apartment with her voice and her acoustic performance.

Je t'aime, Carla!



Quelqu'un m'a dit











Thursday November 9, 2006 - 03:48pm (PST)


Dienstag, 7. November 2006

My favorite ballad songs

This is my top of ballad songs. Thanks Bearie for her helpful entry. Thanks friends at You Tube who posted these videos.



Without you - Mariah Carey

 I really miss this Mariah Carey from the old days. Without you was her first hit and she was very cute as you saw in this performance.













Wednesday November 8, 2006 - 01:24pm (PST)


Freitag, 27. Oktober 2006

Lại bàn về chuyện phim kỷ niệm 1000 năm Thăng Long

Có nên tiếp tục theo đuổi một dự án phim lớn đầy tai tiếng?


1000 năm Thăng Long. Một mốc lịch sử quan trọng của đất nước. Thế nhưng liệu có cần thiết đầu tư vào một bộ phim cúng cụ nữa ngốn chừng 15-20 tỷ (theo dự báo của một số người nhăm nhe muốn dự án này về tay mình, hãng mình) tiền thuế của dân?


Câu trả lời là KHÔNG. Trong vòng 5 năm tới, điện ảnh Việt Nam chưa đủ sức để làm một bộ phim lịch sử hoành tráng đúng nghĩa của nó. Kể cả thuê đạo diễn nước ngoài, như đề xuất của của ông Cục phó Cục điện ảnh Lê Ngọc Minh cho VietnamNet biết.


Vì nếu bạn đã xem tất cả các phim được gọi là "lịch sử" của Việt Nam, nghĩa là có dính dáng đến vua chúa thời xưa, bạn sẽ thấy là điện ảnh Việt Nam chưa thể làm phim hay về những danh nhân, tích truyện xưa của nước mình.


 Giải pháp nào cho một lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long - Hà Nội?


Ban kỷ niệm 1000 năm Thăng Long muốn có đóng góp cho lễ kỷ niệm bằng phim ảnh. điều này hoàn toàn đứng đắn và cần thiết. Giới điện ảnh Việt Nam và nhân dân Việt Nam nên vui mừng về điều này. Vậy có giải pháp nào tốt hơn là con đường đang đi vào ngõ cụt hiện tại?


Theo thiển ý của tôi, nên sử dụng số tiền (ví dụ) 20 tỷ đồng như sau:


 


Giải pháp số 1: Tổ chức một cuộc thi mới cho kịch bản phim về Hà Nội


- đề tài: Không cần phải là lịch sử, nghĩa là không cần phải có ông Lý Công Uẩn hay ông Trần Thủ độ. Miễn là câu chuyện có dính dáng đến Hà Nội. Mảnh đất, con người, tinh thần Hà Nội. Mặt đẹp, mặt chưa đẹp của Hà Nội. Xưa hay nay, điều đó không quan trọng.


- Hội đồng chọn: Gồm những nhà Hà Nội học ở trong và ngoài nước, những người tham gia hội đồng chọn không được phép có kịch bản hoặc giúp đỡ kịch bản dự thi.


- đối tượng tham gia: tất cả người Việt Nam, trong và ngoài nước.


- Thời gian cuộc thi: từ 01/01/2007 đến 01/07/2007


- Hội đồng họp trong tháng 7 và chọn ra 10 kịch bản có giá trị nhất và có tính khả thi nhất.


- Tháng 8/2007: Gửi 10 kịch bản được lựa chọn cho tất cả các hãng phim nhà nước và tư nhân, nghĩa là tất cả các hãng phim có đăng ký là hãng sản xuất phim truyện tại Việt Nam. Các hãng phim này, tuỳ theo khả năng đấu thầu sẽ chọn lựa nhân sự cho dự án phim mà hãng muốn đấu thầu, lên kế hoạch sản xuất với dự trù chi phí để có thể tham gia đấu thầu sau đó. Một hãng phim có thể tham gia đấu thầu cho nhiều dự án phim.


- Tháng 12/2007: tổ chức đấu thầu dân chủ cho 10 dự án phim. Chú ý là, đấu thầu ngoài việc dựa trên kinh phí sản xuất còn cần chú ý đến đoàn phim, tính khả thi. Mỗi dự án phim sẽ nhận được ít nhất 1 tỷ và nhiều nhất 1,5 tỷ đồng tiền tài trợ sản xuất. Tỷ lệ kinh phí sản xuất mà hãng phim cần tự bỏ tiền ra cho 1 dự án phim chiếm  ít nhất 10% và nhiều nhất 50%. Nghĩa là mỗi bộ phim sẽ có tổng kinh phí sản xuất từ 1,111111 tỷ đến 3 tỷ đồng.


- Tháng 01/2008: Ra quyết định về việc 10 dự án phim thuộc về những hãng sản xuất nào.  


- Tháng 01/2008 - tháng 06/2009: các hãng phim được thầu dự án sản xuất phim. Ban chỉ đạo hợp tác chặt chẽ với các hãng phim để theo dõi tiến độ dự án. Tiền tài trợ chỉ được trả từng phần (chia lần lượt thành 10%-30%-20%-30%-10% theo mức tiến độ dự án) khi đoàn phim đạt tiến độ thoả thuận.


- Tháng 07/2009: 10 bộ phim phải được hoàn thành.


- Tháng 08/2009 - tháng 12/2009: Ban chỉ đạo thoả thuận về việc đưa phim ra rạp, chiếu trên truyền hình với các chủ rạp và đài truyền hình.


- Tháng 01/2010 - tháng 10/2010: Các phim lần lượt ra rạp theo tiến độ 1 tháng 1 phim. Tiền vé thu được sau khi trừ phần chia cho rạp sẽ trả cho hãng sản xuất đến số phần trăm kinh phí sản xuất trong dự án mà họ tham gia. Nếu còn thừa, tiền sẽ trả vào quỹ làm phim của Ban chỉ đạo.


- Trong tuần lễ có ngày 10/10/2010: tổ chức chiếu lại toàn bộ 10 phim trong một LHP tại thủ đô Hà Nội. Gala long trọng vinh danh các bộ phim và đoàn phim. Có thể tổ chức tranh giải do khán giả bình chọn.


Một số chú ý:


- Số tiền thu được từ việc bán bản quyền truyền hình sẽ trả vào quỹ làm phim của Ban chỉ đạo.


- Các hãng phim tự lo liệu đưa phim đi LHP Quốc tế trong năm 2010.


- Ban chỉ đạo lo việc quảng bá phim đến với quần chúng thông qua những công ty PR tốt nhất trong nước.





Giải pháp số 2: đặt hàng 5 đạo diễn không sinh sống hay xuất thân từ Hà Nội làm phim về Hà Nội


- Liên hệ với các đạo diễn sau đây để mời họ viết kịch bản và làm phim (phối hợp với ban chỉ đạo tìm nhà sản xuất hợp lý). đề tài phim có liên quan Hà Nội, nhưng câu chuyện không nhất thiết phải diễn ra tại Hà Nội. (Danh sách sau chỉ là một gợi ý, không theo thứ tự nào và có thể được bổ sung):


Việt Linh


đoàn Minh Phượng


Vũ Ngọc đãng


Nguyễn Vinh Sơn


Nguyễn Võ Nghiêm Minh


- Kinh phí tài trợ sản xuất nhiều nhất là 3 tỷ đồng cho 1 phim. Kinh phí này bao gồm cả tiền hỗ trợ cho các đạo diễn đi lại về thủ đô để nghiên cứu nếu cần. Các đạo diễn có thể tự tìm thêm nguồn kinh phí sản xuất nếu cần thiết, nhưng nguồn kinh phí sản xuất đối tác không vượt quá 50% tổng dự toán kinh phí cho một phim. Các đạo diễn được mời có thể hoàn toàn quyết định về nội dung kịch bản mà ban chỉ đạo không can thiệp, trừ khi vi phạm pháp luật. Nhưng Ban chỉ đạo liên kết chặt chẽ trong khâu sản xuất với hãng sản xuất phim.


- Tháng 01/2007: Làm việc với các đạo diễn để tìm ra được 5 người chính, và 2 dự bị.


- Tháng 02/2007: Ký hợp đồng với 5 đạo diễn.


- Tháng 07/2007: Các kịch bản phải được hoàn thành.


- Tháng 08/2007 - 12/2007: Lựa chọn nhà sản xuất và ê kíp cho từng phim.


- Tháng 01/2008: Công bố chính thức từng đoàn phim.


- Tháng 01/2008 - tháng 06/2009: sản xuất phim. Ban chỉ đạo hợp tác chặt chẽ với các hãng phim để theo dõi tiến độ dự án. Tiền tài trợ chỉ được trả từng phần (chia lần lượt thành 10%-30%-20%-30%-10% theo mức tiến độ dự án) khi đoàn phim đạt tiến độ thoả thuận.


- Tháng 07/2009: 10 bộ phim phải được hoàn thành.


- Tháng 08/2009 - tháng 12/2009: Ban chỉ đạo thoả thuận về việc đưa phim ra rạp, chiếu trên truyền hình với các chủ rạp và đài truyền hình.


- Tháng 01/2010 - tháng 10/2010: Các phim lần lượt ra rạp theo tiến độ 2 tháng 1 phim. Tiền vé thu được sau khi trừ phần chia cho rạp sẽ trả vào quỹ làm phim của Ban chỉ đạo.


- Trong tuần lễ có ngày 10/10/2010: tổ chức chiếu lại toàn bộ 5 phim trong một LHP tại thủ đô Hà Nội. trong đó chiếu lại một số phim cũ có liên quan đến Hà Nội. Gala long trọng vinh danh các bộ phim và đoàn phim. 


Một số chú ý:


- Số tiền thu được từ việc bán bản quyền truyền hình sẽ trả vào quỹ làm phim của Ban chỉ đạo.


- Ban chỉ đạo và các đạo diễn lo liệu đưa phim đi LHP Quốc tế trong năm 2010.


- Ban chỉ đạo lo việc quảng bá phim đến với quần chúng thông qua những công ty PR tốt nhất trong nước.


 


Giải pháp số 3: thành lập liên hoan phim quốc tế Hà Nội (Hanoi International Film Festival)


Thay vì làm một phim lịch sử cúng cụ rồi cất kho, hãy dùng số tiền 20 tỷ đồng để thành lập LHP QT Hà Nội (gọi tắt là HIFF) cho tương lai.


Tại sao phải là một LHP QT? Việt Nam chưa hề có một LHP QT đúng nghĩa. Tất cả các nền điện ảnh muốn phát triển phải có sự giao lưu với thế giới thông qua một LHP QT. HIFF sẽ là LHP QT đúng nghĩa đầu tiên tại Việt Nam, sẽ là đòn thúc đẩy quan trọng cho điện ảnh Việt Nam và du lịch Hà Nội, cũng như mang hình ảnh Hà Nội văn minh, hoà bình đến với thế giới. LHP đồng thời củng cố vị trí trung tâm văn hoá của Hà Nội tại đông Dương và xa rộng hơn có thể là đông Nam Á.


20 tỷ có đủ không? đủ cho LHP đầu tiên, còn tổ chức ở quy mô nhỏ. Cho những kỳ tiếp theo, LHP cần sự hỗ trợ của chính phủ, UBND thành phố Hà Nội và các nhà tài trợ.


Làm thế nào để tổ chức LHP? Ai là Ban tổ chức? Câu trả lời cho câu hỏi này tác giả đã có, nhưng vì giới hạn vượt quá khuôn khổ của bài viết này nên sẽ không trình bày ở đây. Chắc chắn Ban tổ chức LHP độc lập với Cục điện ảnh, Hội điện ảnh. Có thể là một BTC độc lập do một công ty mới được thành lập cho riêng LHP nhưng về nguyên tắc trực thuộc Bộ VH-TT.


LHP QT Hà Nội diễn ra lúc nào? HIFF sẽ là LHP thường niên, diễn ra lần đầu tiên vào cuối tháng 10/2010. Thời điểm cuối tháng 10 hợp lý, vì khi đó Hà Nội đã hết mùa mưa, khí hậu mùa thu dễ chịu, Hà Nội khi đó đẹp nhất. Ngoài ra, cuối tháng 9 đầu tháng 10 diễn ra LHP QT Pusan, LHP QT lớn nhất Châu Á. Ngay sau Pusan, Hà Nội sẽ có thể chiếu được những bộ phim vừa tham dự Pusan, thường có premiere Châu Á ở đó. Hà Nội sẽ liên hệ chặt chẽ với Pusan như là một đối tác để việc chọn phim và chuyển bản phim được thuận lợi nhất. Ngoài ra, HIFF vào cuối tháng 10 sẽ không bị đụng hàng với Bangkok (tháng 2) và Singapore (tháng 4).


LHP gồm những danh mục nào? Bước đầu sẽ có các danh mục sau:


- tranh giải cho phim truyện dài quốc tế (Gồm nhiều nhất 10 phim tham dự cho các giải Phim hay nhất, Giải phim do khán giả bình chọn và Giải do các phóng viên văn hoá báo chí trong nước bình chọn)


- tranh giải phim truyện đông dương (Gồm nhiều nhất 5 phim tham dự, trong đó Lào và Campuchia mỗi nước ít nhất 1 phim, cho giải Phim hay nhất)


- tranh giải phim ngắn đông Nam Á (Gồm nhiều nhất 10 phim trong khu vực tham dự cho 1 giải phim hay nhất và 2 bằng khen)


- Toàn cảnh (gồm các phim truyện dài của Quốc tế không tranh giải)


- Phim tốt nghiệp của Sinh viên các trường điện ảnh đông dương (sẽ chọn chừng 10 phim tốt nghiệp hàng năm của sinh viên).


- "Hà Nội trong mắt ai" - danh mục chiếu phim cổ điển có liên quan đến Hà Nội.


Ban giám khảo gồm những thành phần nào? BGK cho 3 mục tranh giải là các gương mặt quốc tế do Ban tổ chức mời làm giám khảo. 


Ai lựa chọn phim tham dự? Sẽ có một ban lựa phim do BTC thành lập.


LHP QT Hà Nội lần thứ nhất vào tháng 10/2010 sẽ là cách hữu hiệu để chào mừng lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, và sẽ là mốc quan trọng thúc đẩy điện ảnh, văn hoá nước nhà tiến gần với bạn bè thế giới.


 


Bài viết bản quyền của Mạnh Cường (c) 27/10/2006






Bạn chọn giải pháp nào cho vấn đề này?




Giải pháp số 1

1


Giải pháp số 2

0


Giải pháp số 3

1


Cả 3 đều không ổn

3


Tôi có giải pháp khác hay hơn (đề nghị viết comment)

0





Sign in to vote

Donnerstag, 26. Oktober 2006

Ai là nhân vật chính?




Trong bức ảnh trên, người quay phim vô tình (hay cố tình) trở thành nhân vật chính của tấm ảnh. Không những thế, của cả tình huống, sự việc.


Thay vì một bộ đồ đen kín đáo, để không bị nổi bật do công việc của người quay phim là bên lề của sự kiện, các nhà quay phim nước ta thường chọn một bộ đồ nổi nhất, điều này đã được kiểm chứng qua nhiều chương trình ca nhạc, hội họp, chiếu phim, lễ phát giải,... mà người viết bài đã được trực tiếp chứng kiến.


Sự không chuyện nghiệp của bộ máy tổ chức được thể hiện từ những điều nhỏ nhặt như thế.


Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Mittwoch, 25. Oktober 2006

Tại sao? - Câu hỏi thiếu của giới trẻ Việt




Cách bạn đặt câu hỏi trước một sự vật hiện tượng thể hiện góc độ mà bạn quan tâm về chúng. Việc này cũng xây dựng cho bạn phản xạ trong những tình huống khác nhau.



1. Ai ? Cái gì? Thế nào?

Phan Lan Hương, một người bạn đang du học ở Malaysia đã kể cho tôi nghe một câu chuyện như thế này: Bằng thời gian này năm ngoái, cả thế giới còn đang bàng hoàng vì thảm họa sóng thần ở Đông Nam Á. Lớp Hương đang học được thầy giáo giao cho một bài tập lớn. Mỗi người phải tự chọn cho mình một khía cạnh mình quan tâm về thảm họa vừa qua để tìm tư liệu viết bài.



Hương đã đầu tư rất nhiều công sức cho bài tập đó: lên mạng lấy thông tin, lấy ảnh, trích những đoạn phỏng vấn người dân... Thậm chí cô còn nhờ vài người bạn ở Thái Lan quay tận cảnh bãi biển Phuket sau thảm họa để đưa vào slide cho sinh động.



Công phu sưu tầm, trích dẫn, tác phẩm của Hương đã tường thuật lại rất cảm động và chân thực khung cảnh điêu tàn và không khí tang thương do sóng thần gây ra. Tuy nhiên, khi nhận được điểm cho bài tập, Hương khá thất vọng: chỉ là điểm trung bình.



Trong khi đó, vài người bạn nước ngoài của cô lại đạt điểm khá, mặc dù bài làm không được công phu bằng. Vậy yếu tố quyết định ở đây là gì? Câu trả lời của thầy giáo đã làm Hương, cũng như tôi, người chỉ nghe thuật lại câu chuyện phải giật mình: Khi làm bài tập bạn đã đặt câu hỏi nào?



Hương đặt cho mình câu hỏi “Ai? ở đâu? Như thế nào?” và trả lời bằng một bài viết hoành tráng để miêu tả hiện tại. Trong khi đó, những người bạn nước ngoài lại đặt câu hỏi “Tại sao sóng thần lại gây ra hậu quả thảm khốc đến thế?” và từ nghiên cứu đó rút ra những bài học sau này.



Không thể bàn đến yếu tố chuyên môn, đúng hay sai, trong bài học mà những người bạn nước ngoài đã đề cập đến trong bài viết của họ. Tôi muốn nói đến cách họ nhìn cuộc sống. Cách họ phản ứng với nó.



“Ai? Cái gì? Thế nào?” là câu hỏi dành cho hiện tại. Tất cả chúng ta đều quen với cách hỏi ấy từ rất lâu rồi, đến nỗi nó bật ra như một phản xạ không điều kiện khi có chuyện gì bất ngờ xảy đến.



Những câu hỏi quen thuộc ấy chứng tỏ rằng bạn quan tâm đến những điều đang hiển hiện trước mắt hơn bất cứ gì khác. Trong khi bạn quên mất một điều là, nó mới dừng lại ở mức độ giúp con người nhận thức được sự việc chứ chưa thể dẫn chúng ta đến một giải pháp hay cái gì thiết thực hơn.



Trong khi đó, “Tại sao?” là câu hỏi tưởng như để tìm hiểu quá khứ nhưng thực ra lại thể hiện mối quan tâm đến tương lai. “Tại sao?” mới chính là câu hỏi quan trọng nhất. Nó giúp ta hiểu được mình đã làm gì đúng, và làm gì sai, từ đó rút ra những kinh nghiệm cần thiết cho bản thân trong tương lai.



Bạn thường hay đặt câu hỏi nào cho mình? Cuộc sống của bạn sẽ nói lên điều đó. Câu hỏi “Tại sao?” tạo cho bạn một phản xạ nhanh nhạy theo hướng tìm cách giải quyết nhanh nhất cho sự việc mới phát sinh.



Câu hỏi “Ai? ở đâu? Thế nào?” đòi hỏi bạn nhiều thời gian hơn để xác định phương hướng. Trước một đám cháy, người hỏi “Tại sao cháy?” sẽ tìm đến nguồn lửa để dập tắt. Còn người hỏi “Cháy ở đâu? To không?” sẽ còn quan tâm xem có bao nhiêu nhà bị cháy? Đó là cửa hàng nào?... Và đến khi nhận thức được việc mình cần làm thì đã quá muộn.



Trong câu chuyện của Hương, sau khi thảm hoạ xảy ra, điều chúng ta cần quan tâm là làm thế nào để khắc phục hiện tại? Làm sao để lần sau không còn thảm họa như thế xảy ra nữa? Thái độ đó sẽ thực tế hơn nhiều so với việc than khóc cho những điều đã xảy ra, không thể thay đổi được.



Những người Việt Nam đang học tập ở nước ngoài đã công nhận rằng “Tại sao?” là câu hỏi quen thuộc của những người bạn ngoại quốc. Chính vì thế mà họ có “cảm giác nhanh nhạy” hơn các bạn trẻ Việt Nam.



Việc đi tìm câu trả lời cho câu hỏi của mình giúp họ hiểu sâu hơn về vấn đề, và quan trọng là biến những kiến thức sách vở thành kiến thức “sống”. Càng trong những trường hợp khẩn cấp cần phản ứng nhanh thì “cảm giác nhanh nhạy” của họ càng phát huy tác dụng.



Phương Thảo (du học sinh ở Nhật): “Khi tôi mới sang đây, tôi khá tự tin vì mình chăm chỉ và thông minh. Tuy nhiên sau một thời gian, tôi nhận ra rằng mình chỉ mới biết những điều trong sách vở. Trong những hoạt động thực tế, vào phòng thí nghiệm hay hoạt động xã hội chẳng hạn, trong khi du học sinh Việt Nam còn rất lúng túng thì các bạn nước ngoài lại hoàn toàn chủ động!”.



Quang Việt (du học sinh Mỹ): “Khi cùng làm thí nghiệm Hoá học, nếu như kết quả ra khác với tính toán lí thuyết thì học sinh Việt Nam sẽ lo lắng tìm cách “ăn gian” cho ra đúng kết quả. Còn học sinh Mỹ thì lại mày mò tìm xem yếu tố bất thường nào đã xen vào. Thế là từ lần sau, họ biết cách điều chỉnh thí nghiệm, còn tôi vẫn cứ loay hoay tìm cách “ăn gian”!”.



2. Những câu hỏi “Tại sao?” không được khuyến khích

Tôi hỏi một người bạn thân rằng có hay hỏi “Tại sao?” trước một sự việc không? Anh cười và bảo “Đấy là câu hỏi chỉ có bọn con nít mới hay hỏi!”. Tôi thấy đúng. Chúng ta ai cũng lớn lên từ những câu hỏi “Tại sao?” thời thơ bé. Câu hỏi đó như một bản năng, ai muốn trưởng thành cũng phải tự đi tìm câu trả lời cho mình. Nhưng rồi càng lớn, chúng ta càng ít hỏi câu hỏi quan trọng nhất ấy. Đó là kết quả của cách giáo dục truyền thống mà nhiều thế hệ đã trải nghiệm.



Đứa cháu họ của tôi, mới có 5 tuổi, nhìn thấy cái gì quanh mình cũng quay ra hỏi mẹ “Tại sao lại thế?”. Lúc đầu chị còn trả lời, sau rồi khó chịu gắt bẳn làm nó khóc oà lên. Dần dần tôi không thấy nó hỏi “Tại sao?” nữa. Mẹ bảo gì là răm rắp nghe theo, thế là được khen là ngoan, được ăn kẹo, được đi chơi cuối tuần.



Chính bản thân tôi, hồi còn lớp 2, trong giờ Tiếng Việt, đã giơ tay hỏi cô giáo “Tại sao người ta lại nói là “chợ búa”?”. Cô suy nghĩ một lát rồi chẳng trả lời. Tôi hỏi lại mấy lần, bị cô giáo mắng “Còn bé mà cứ thích vặn vẹo người lớn!”. Thế là thôi, từ đấy cũng biết ... khôn ra, chẳng bao giờ vặn-vẹo-người-lớn nữa.



Lên cấp THCS và THPT, nhiều người vẫn còn giữ cho mình thói quen hỏi “Tại sao?” khi chưa hiểu điều gì trong bài giảng của thầy cô giáo. Nhưng không nhiều trong số họ nhận được sự khích lệ từ giáo viên, hay từ những người bạn cùng lớp của mình.



Trần Thanh An (ĐH KHTN, ĐHQG): “Trong những giờ Vật lý đầu tiên được học, tôi rất hay giơ tay thắc mắc khi chưa hiểu chỗ nào đó. Những gì tôi nhận được sau những câu hỏi thường là ánh mắt kì quặc của bạn bè và một thái độ không mấy dễ chịu của thầy cô”.



Nhiều khi, những câu hỏi “Tại sao?” bị gác lại đến cuối giờ hoặc để dành đến tiết bài tập, và thường bị lãng quên nhanh chóng. Hoặc là thầy cô giáo đã không đủ nhiệt tình để giải thích cặn kẽ cho học sinh hiểu. Hoặc là sức ép phải “chạy” cho hết giáo án trong vòng 45 phút đã không cho thầy cô có thời gian dừng lại.



Dần dần, Thanh An thoả hiệp với cách chấp nhận những kiến thức được dạy theo kiểu photocopy. Và với những lĩnh vực đặc biệt như giáo dục giới tính thì lại càng khó khăn hơn với câu hỏi “Tại sao?”. Bởi bức tường “tế nhị”, “nhạy cảm”... luôn nhảy ra ngăn chặn kịp thời. Thói quen hỏi cũng mất dần.



Bước vào giảng đường đại học? Không có chỗ cho những câu hỏi ngoài ... giờ thi vấn đáp. SV nhiều khi cứ học vẹt theo những dòng chữ trong giáo trình mà cũng không hiểu lắm. Chẳng mấy ai đặt câu hỏi “Tại sao nó lại thế này, thế kia?”. Sự thụ động ấy gần như đã trở thành bản chất chung cho nhiều người Việt trẻ bây giờ.



3. Không thể chỉ trách người!

Người đặt câu hỏi là các bạn. Nếu thực sự khao khát câu trả lời, các bạn có thể tự mình đi tìm trước khi có ai đó mang sẵn đến cho mình.



Trở lại câu chuyện của Trần Thanh An (ĐH KHTN ĐHQG). An có vẻ rất bức xúc khi nói đến những câu hỏi “Tại sao?” bị bỏ xó của mình từ những ngày cấp II. Nhưng khi tôi hỏi lại rằng “Bạn có tìm thêm sách tham khảo để tìm hiểu hoặc hỏi anh chị lớn trong nhà chứ?”, An tảng lờ.



Lí do An có thể đưa ra rất nhiều: “không có thời gian”, “không biết sách nào mà mua”... Nhưng đó rõ ràng chỉ là cách biện hộ. Nếu chỉ đặt câu hỏi và không có nỗ lực tự trả lời, nhiều khi câu hỏi “Tại sao?” của bạn chỉ để thoả mãn tính tò mò nhất thời.



Dù sao Thanh An cũng đã đặt cho mình câu hỏi quan trọng ấy. Còn những bạn trẻ chỉ ưa chuộng “Ai? Thế nào? ở đâu?”, họ vẫn còn giữ tâm lí đối phó. Hành động “ăn gian” của Quang Việt (du học sinh Mỹ) trong phòng thí nghiệm chính là minh chứng: đối phó với thầy giáo, quan tâm đến điểm số hơn là bản chất của thí nghiệm.



Chính trong buổi thí nghiệm đó, Việt đã thua các bạn nước ngoài. Họ học được bài học kinh nghiệm cho những lần sau, còn Việt vẫn cứ mãi phải đối phó, vẫn “gạo vì điểm”. Việt đã không nhận ra rằng những bài học lí thuyết trên lớp chỉ để phục vụ cho những hoạt động thực tiễn. Cậu chạy theo điểm để rồi lỡ mất bài học thực sự cho mình.



Xét cho cùng, sự khác nhau trong cách nhìn nhận sự việc, cách quan tâm đến cuộc sống giữa những người trẻ Việt và bạn bè thế giới đã phản ánh rất rõ sự khác nhau trong tầm nhìn. Tủn mủn với những điều nhìn thấy trước mắt là cách hành xử của tầm nhìn ngắn hạn. Đi tìm nguyên nhân, giải pháp và đúc kết bài học cho tương lai mới là thái độ của những người có tầm nhìn vượt qua “ngày hôm nay” của chính mình.



Đứng thẳng lên đi. Và hãy bắt đầu nhìn ra xa hơn với câu hỏi “Tại sao?” cho bản thân mình.



(Sinh viên Việt Nam)



Source: www.voanhtu.com

Dienstag, 24. Oktober 2006

Gọi tên bốn mùa

Spring


How perfectly simple


Spring appeared today:


a subdued blue sky.


(Essa, 1763 -1827)


Xuân


Thật giản đơn quá


Xuân về hôm nay:


một bầu trời xanh thẫm


 


Summer


Summer on earth!


It floats over the lakes,


over the waves.


(Bashò, 1644 - 1694)


Hạ


Mùa hạ!


Dập dìu trên hồ,


trên những con sóng.


 


Autumn


Autumn arrives slowly;


A light is turned on in a house;


Darkness has not yet fallen.


(Buson, 1715 - 1783)


Thu


Thu đến chầm chậm;


Trong nhà đèn đã thắp sáng;


Bóng tối vẫn chưa buông.


 


Winter


Solitary winter landscape;


In a world of one colour


The voice of the wind.


(Bashò, 1644 - 1694)


Đông


Cảnh đông lặng lẽ;


Trong thế giới một màu


Tiếng gió thổi.


(Dịch bởi Marcus)

Montag, 23. Oktober 2006

Lê Vân yêu và sống: Chỉ tại ông Trương Nghệ Mưu

(Theo TuoiTre)


Image
Lê Vân trong phim Đêm hội Long Trì (đạo diễn Hải Ninh)
TT - Có hai lĩnh vực nghệ thuật và tình yêu, tôi là người phụ cả hai. Với tình yêu, tôi được yêu, với nghề nghiệp, sự thành công đến quá dễ dàng... thế mà tôi cũng xuống tóc bỏ hết. Như muốn lánh đời... Tại sao vậy?

>> Kỳ 6: Một khi lòng đã chán

>> Kỳ 5: Những người đạo diễn của tôi

>> Kỳ 4: Những ngày khổ luyện

>> Kỳ 3: Cuộc đời buồn của mẹ

>> Kỳ 2: Vân ơi, Vân là ai?

>> Kỳ 1: Tuổi thơ ngắn ngủi


Tốt nhất là dừng lại...


Trong cái bối cảnh làm nghệ thuật kiểu cẩu thả, được chăng hay chớ này, có cố cũng không hơn được, và không biết bao giờ mới thay đổi để hơn được. Nghĩ mình chưa làm được gì, chưa làm gì ra hồn. Làm ra một bộ phim đâu phải chỉ có riêng mình, đâu phải mình muốn làm hay mà nó thành hay được. Công việc không độc lập, mình phải phụ thuộc rất nhiều vào người khác. Bên múa thì là biên đạo múa, là âm nhạc, bên phim còn nhiều hơn. Cho nên, nếu là người nghiêm khắc với bản thân thì mình nên thôi. Giống như ông Dương Trung Quốc, nhà sử học dạo này rất hay xuất hiện trước truyền hình, có nói rằng các bộ trưởng, các lãnh đạo của ta không có văn hóa từ chức. Nghe thế, tôi thấy, có lẽ mình cũng là người có lương tri, vì mình “biết từ chức”, thôi không làm nghề nữa.


Có lẽ cái giá trị nhất với tôi trong những ngày đi đóng phim là những kỷ niệm. Mỗi một cảnh có mình, khi xem lại tôi đều nhớ lúc quay cảnh đó ra sao. Đặc biệt nhớ lại tuổi trẻ của mình. Non nớt có, ngờ nghệch có. Ngay từ ngày ấy tôi đã có ý thức nâng niu gìn giữ tất cả những tấm ảnh, những bài báo thời gian làm phim và các thành viên đoàn phim. Chúng tôi gắn bó với nhau đến cả vài tháng trời, cùng làm việc rồi lại tan ra mỗi người đi một hướng. Ngay từ thời đó tôi luôn nghĩ phải gom lại, giữ lại tất cả những kỷ niệm này, nó sắp hết rồi. Phim quay xong lại sang một đoàn khác, có những kỷ niệm khác. Trong tôi luôn có một sự gấp gáp thôi thúc nhắc nhở rằng đây là những kỷ niệm sẽ để lại trong mình mãi mãi…


Vì thế, khi cắt tóc bằng tôngđơ, chẳng còn chút lưu luyến nào với cả sân khấu lẫn điện ảnh nữa… là cũng phải trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần chứ không dễ dàng gì.


Gia đình tôi bảo tôi dại, giá mà cố nấn ná thêm một năm nữa rồi hãy dừng, tôi sẽ có tất cả. Mọi người muốn nói đến danh hiệu nghệ sĩ nhân dân như đã ở trong tầm tay. Tôi biết điều đó. Chẳng phải vận động ai, xin xỏ ai. Đến kỳ hạn chắc chắn họ sẽ xét đến. Tôi tự thấy chứ không phải tôi tự mãn. Mọi người tiếc vì tôi đã để trượt khỏi tay cái mà mọi người thèm muốn và rất khó khăn mới đạt được. Nhưng tôi lại nghĩ khác.


Tôi hỏi bố, một nghệ sĩ nhân dân về hưu, rằng: nghệ sĩ nhân dân như bố để làm gì hay chỉ là cái danh hão? Và cụ phải công nhận đúng thế thật. Bây giờ nhà cửa không có, không nương tựa vào con cái làm sao sống được bằng chút lương hưu còm! Thế chẳng phải danh hão ư? Tôi không thích cái danh hão ấy. Còn cô Khanh, con đường nghệ thuật còn dài, được phong nghệ sĩ nhân dân rồi, thế là hết ư? Chẳng còn danh hiệu nào để phấn đấu nữa à? Nếu vẫn muốn phấn đấu nữa thì sao? Không hơn được nữa à? Với tôi, sẽ là quá chán, quá nhàm nếu phải nấn ná thêm một hai năm nữa chỉ để đạt cái NSND rồi thôi, vì đến đỉnh rồi! Cái chính là trong con người mình còn muốn một cái gì đó hơn thế, và tôi đủ tỉnh táo để thấy mình không thể đạt được cho nên tốt nhất là dừng. Dừng một cách nhẹ nhàng, thanh thản không nuối tiếc.


Cú sốc


Ngẫm lại các vai diễn của bản thân mình từ bấy lâu nay, hình như nó không phải là điện ảnh hay sao ấy? Vậy nó là cái gì nhỉ? Hóa ra, chính mình vì may mắn và được ưu ái mà nổi lên thôi. Người ta nhặt tôi về, biến tôi thành những chị Dậu, chị Duyên. Rồi nương theo đó, tôi cũng đã hồn nhiên tự nhận về mình nhiều thứ. Trong suốt những năm tháng tham gia đóng phim, tôi cũng đã rất ý thức với việc chọn lựa vai diễn, chọn lựa đạo diễn, rồi lao động hết mình cho bộ phim để không bị rơi vào sự sáo mòn tầm thường. Thế mà bây giờ nhìn lại, hình như vẫn chỉ là nghiệp dư. Phải dừng thôi. Tất cả những ý nghĩ này tôi chẳng dám thổ lộ với ai, chỉ phản ứng bằng cách tự hành hạ bản thân. Tức là đoạn tuyệt. Bởi có tiếp tục nữa, cố gắng nữa cũng chỉ đến thế mà thôi. Nhiều khả năng là chẳng được như thế nữa.


Nghệ sĩ, theo tôi, nhất định phải là những kẻ sáng tạo. Ví dụ, một cuốn phim ra đời nghĩa là người đạo diễn phải đưa ra được một thông điệp mới hoặc một phương pháp biểu hiện mới. Nếu không làm người xem thay đổi được nhận thức, chí ít cũng phải mang lại những rung cảm thẩm mỹ nhất định. Một tác phẩm điện ảnh không thể đơn giản là kể lại một câu chuyện phim. Điện ảnh Việt Nam, đáng tiếc, mới chỉ dừng lại ở mức kể một câu chuyện bằng hình ảnh. Có đạo diễn biết kể một cách thông minh, tinh tế, người khác lại kể một cách thô thiển, vụng về. Hiếm hoi lắm mới có đạo diễn kể được câu chuyện phim một cách hấp dẫn hay ấn tượng. Và trên hết, các đạo diễn Việt Nam đều muốn truyền đạt một thông điệp to lớn mang tính nhân loại, nhưng cứ vá víu, loạng quạng chẳng đến đầu đến đũa gì cả.

Bởi vậy tôi đã bị tác động rất mạnh khi gặp được những giải đáp, băn khoăn của mình từ một đạo diễn nước ngoài, ông khiến tôi như bị một cú đánh thức tỉnh khỏi cơn mộng dài u mê. Những bộ phim của ông đã đánh gục tôi. Đó là đạo diễn Trương Nghệ Mưu của Trung Quốc.


Ngay từ bộ phim đầu tiên của ông chiếu ở Việt Nam, tôi đã bị chinh phục hoàn toàn. Lập tức, tôi tìm xem tất cả những phim của ông với lòng say mê ngưỡng mộ vô cùng. Tôi thầm nhủ: trời ơi, đây chính là thứ điện ảnh mà mình mong muốn cho Việt Nam. Đây chính là thứ thẩm mỹ nghệ thuật mà mình mơ ước được cống hiến.


Xuất thân là một nhà quay phim nhưng ông không ngừng tìm tòi, học tập để xuất hiện như một nhà làm phim có đẳng cấp quốc tế. Mỗi cuốn phim mới của ông là một sự phủ định cái trước. Ông tìm tòi cái mới mà không hề sợ thất bại. Ông đã đánh trúng vào nỗi khao khát của tôi về một thứ thẩm mỹ nghệ thuật kiểu như thế. Đúng là tôi bị sốc nặng. Sau cú sốc, tỉnh mộng, tôi nhìn lại mình, nhìn lại những bộ phim mình đã làm và nhìn rộng ra toàn cảnh bức tranh điện ảnh Việt Nam, tôi đau xót nhận ra một sự thật: những thứ đó chưa phải là nghệ thuật điện ảnh.


Tôi thấy mình như bị tắc tị, bị rơi vào ngõ cụt. Không lối thoát.


Tôi chỉ muốn gào lên với các đạo diễn Việt Nam rằng: các anh ơi, hãy tìm tòi đi, sáng tạo đi, tìm ra một lối thoát cho điện ảnh Việt Nam đi... Và vì biết rằng không bao giờ tôi đủ dũng cảm để đưa ra cái đòi hỏi chính đáng ấy nên chỉ có một phản ứng yếu ớt: câm lặng, xuống tóc, tự tiêu diệt con người sáng tạo của mình bằng cách thôi không đóng phim nữa. Tôi âm thầm vụng trộm mơ ước đến ngày điện ảnh Việt Nam cho ra đời một đạo diễn đầy cá tính, thích phá phách kiểu như thế. Cứ cho là không thể thành công ngay, nhưng chí ít họ cũng dám sáng tạo, khai hoang tìm một con đường đi của riêng mình.


Sẽ thật khôi hài nếu nói tôi bỏ nghiệp diễn chỉ tại ông Trương Nghệ Mưu!


Nhưng, đúng là như vậy đấy! Ông thức tỉnh tôi đồng thời cũng giết chết những khao khát làm nghề của tôi. Tại sao lại là ông? Trên thế giới còn có biết bao nhiêu đạo diễn tài năng xuất chúng khác? Bởi vì, thứ nhất, ông là người châu Á da vàng mũi tẹt tóc đen như mình, rất gần gũi với mình. Ông xuất thân từ một đất nước có tầm văn hóa đời sống và văn học nghệ thuật đương đại đang phát triển như mình. Nghĩa là, không thể nói ông là kết quả của nền giáo dục - đào tạo của Trung Quốc. Tất cả là do nỗ lực cá nhân. Ông ta muốn phá phách, nổi loạn, tìm tòi. Ông là niềm mơ ước không chỉ của điện ảnh Việt Nam mà còn của khán giả yêu điện ảnh Việt Nam. Bởi phim của ông rất gần gũi với người châu Á, mang đậm chất phương Đông. Tại sao đạo diễn mình không học?


Số tử vi của tôi là vũ khúc tham lang, hoàn toàn làm công tác nghệ thuật mặc dù đâu có muốn, đâu có yêu. Là đàn bà nhưng lại dương nữ, mang tính khí đàn ông. Thân lập thân chứ chẳng nhờ vả được ai. Có chút tài hoa. Con đường nghệ thuật ngắn. Sự nghiệp đang lên thì dừng đột ngột. Tại tử vi nói thế hay là…


...chỉ tại ông Trương Nghệ Mưu!


Tự truyện của LÊ VÂN - BÙI MAI HẠNH thể hiện