Freitag, 27. Oktober 2006

Lại bàn về chuyện phim kỷ niệm 1000 năm Thăng Long

Có nên tiếp tục theo đuổi một dự án phim lớn đầy tai tiếng?


1000 năm Thăng Long. Một mốc lịch sử quan trọng của đất nước. Thế nhưng liệu có cần thiết đầu tư vào một bộ phim cúng cụ nữa ngốn chừng 15-20 tỷ (theo dự báo của một số người nhăm nhe muốn dự án này về tay mình, hãng mình) tiền thuế của dân?


Câu trả lời là KHÔNG. Trong vòng 5 năm tới, điện ảnh Việt Nam chưa đủ sức để làm một bộ phim lịch sử hoành tráng đúng nghĩa của nó. Kể cả thuê đạo diễn nước ngoài, như đề xuất của của ông Cục phó Cục điện ảnh Lê Ngọc Minh cho VietnamNet biết.


Vì nếu bạn đã xem tất cả các phim được gọi là "lịch sử" của Việt Nam, nghĩa là có dính dáng đến vua chúa thời xưa, bạn sẽ thấy là điện ảnh Việt Nam chưa thể làm phim hay về những danh nhân, tích truyện xưa của nước mình.


 Giải pháp nào cho một lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long - Hà Nội?


Ban kỷ niệm 1000 năm Thăng Long muốn có đóng góp cho lễ kỷ niệm bằng phim ảnh. điều này hoàn toàn đứng đắn và cần thiết. Giới điện ảnh Việt Nam và nhân dân Việt Nam nên vui mừng về điều này. Vậy có giải pháp nào tốt hơn là con đường đang đi vào ngõ cụt hiện tại?


Theo thiển ý của tôi, nên sử dụng số tiền (ví dụ) 20 tỷ đồng như sau:


 


Giải pháp số 1: Tổ chức một cuộc thi mới cho kịch bản phim về Hà Nội


- đề tài: Không cần phải là lịch sử, nghĩa là không cần phải có ông Lý Công Uẩn hay ông Trần Thủ độ. Miễn là câu chuyện có dính dáng đến Hà Nội. Mảnh đất, con người, tinh thần Hà Nội. Mặt đẹp, mặt chưa đẹp của Hà Nội. Xưa hay nay, điều đó không quan trọng.


- Hội đồng chọn: Gồm những nhà Hà Nội học ở trong và ngoài nước, những người tham gia hội đồng chọn không được phép có kịch bản hoặc giúp đỡ kịch bản dự thi.


- đối tượng tham gia: tất cả người Việt Nam, trong và ngoài nước.


- Thời gian cuộc thi: từ 01/01/2007 đến 01/07/2007


- Hội đồng họp trong tháng 7 và chọn ra 10 kịch bản có giá trị nhất và có tính khả thi nhất.


- Tháng 8/2007: Gửi 10 kịch bản được lựa chọn cho tất cả các hãng phim nhà nước và tư nhân, nghĩa là tất cả các hãng phim có đăng ký là hãng sản xuất phim truyện tại Việt Nam. Các hãng phim này, tuỳ theo khả năng đấu thầu sẽ chọn lựa nhân sự cho dự án phim mà hãng muốn đấu thầu, lên kế hoạch sản xuất với dự trù chi phí để có thể tham gia đấu thầu sau đó. Một hãng phim có thể tham gia đấu thầu cho nhiều dự án phim.


- Tháng 12/2007: tổ chức đấu thầu dân chủ cho 10 dự án phim. Chú ý là, đấu thầu ngoài việc dựa trên kinh phí sản xuất còn cần chú ý đến đoàn phim, tính khả thi. Mỗi dự án phim sẽ nhận được ít nhất 1 tỷ và nhiều nhất 1,5 tỷ đồng tiền tài trợ sản xuất. Tỷ lệ kinh phí sản xuất mà hãng phim cần tự bỏ tiền ra cho 1 dự án phim chiếm  ít nhất 10% và nhiều nhất 50%. Nghĩa là mỗi bộ phim sẽ có tổng kinh phí sản xuất từ 1,111111 tỷ đến 3 tỷ đồng.


- Tháng 01/2008: Ra quyết định về việc 10 dự án phim thuộc về những hãng sản xuất nào.  


- Tháng 01/2008 - tháng 06/2009: các hãng phim được thầu dự án sản xuất phim. Ban chỉ đạo hợp tác chặt chẽ với các hãng phim để theo dõi tiến độ dự án. Tiền tài trợ chỉ được trả từng phần (chia lần lượt thành 10%-30%-20%-30%-10% theo mức tiến độ dự án) khi đoàn phim đạt tiến độ thoả thuận.


- Tháng 07/2009: 10 bộ phim phải được hoàn thành.


- Tháng 08/2009 - tháng 12/2009: Ban chỉ đạo thoả thuận về việc đưa phim ra rạp, chiếu trên truyền hình với các chủ rạp và đài truyền hình.


- Tháng 01/2010 - tháng 10/2010: Các phim lần lượt ra rạp theo tiến độ 1 tháng 1 phim. Tiền vé thu được sau khi trừ phần chia cho rạp sẽ trả cho hãng sản xuất đến số phần trăm kinh phí sản xuất trong dự án mà họ tham gia. Nếu còn thừa, tiền sẽ trả vào quỹ làm phim của Ban chỉ đạo.


- Trong tuần lễ có ngày 10/10/2010: tổ chức chiếu lại toàn bộ 10 phim trong một LHP tại thủ đô Hà Nội. Gala long trọng vinh danh các bộ phim và đoàn phim. Có thể tổ chức tranh giải do khán giả bình chọn.


Một số chú ý:


- Số tiền thu được từ việc bán bản quyền truyền hình sẽ trả vào quỹ làm phim của Ban chỉ đạo.


- Các hãng phim tự lo liệu đưa phim đi LHP Quốc tế trong năm 2010.


- Ban chỉ đạo lo việc quảng bá phim đến với quần chúng thông qua những công ty PR tốt nhất trong nước.





Giải pháp số 2: đặt hàng 5 đạo diễn không sinh sống hay xuất thân từ Hà Nội làm phim về Hà Nội


- Liên hệ với các đạo diễn sau đây để mời họ viết kịch bản và làm phim (phối hợp với ban chỉ đạo tìm nhà sản xuất hợp lý). đề tài phim có liên quan Hà Nội, nhưng câu chuyện không nhất thiết phải diễn ra tại Hà Nội. (Danh sách sau chỉ là một gợi ý, không theo thứ tự nào và có thể được bổ sung):


Việt Linh


đoàn Minh Phượng


Vũ Ngọc đãng


Nguyễn Vinh Sơn


Nguyễn Võ Nghiêm Minh


- Kinh phí tài trợ sản xuất nhiều nhất là 3 tỷ đồng cho 1 phim. Kinh phí này bao gồm cả tiền hỗ trợ cho các đạo diễn đi lại về thủ đô để nghiên cứu nếu cần. Các đạo diễn có thể tự tìm thêm nguồn kinh phí sản xuất nếu cần thiết, nhưng nguồn kinh phí sản xuất đối tác không vượt quá 50% tổng dự toán kinh phí cho một phim. Các đạo diễn được mời có thể hoàn toàn quyết định về nội dung kịch bản mà ban chỉ đạo không can thiệp, trừ khi vi phạm pháp luật. Nhưng Ban chỉ đạo liên kết chặt chẽ trong khâu sản xuất với hãng sản xuất phim.


- Tháng 01/2007: Làm việc với các đạo diễn để tìm ra được 5 người chính, và 2 dự bị.


- Tháng 02/2007: Ký hợp đồng với 5 đạo diễn.


- Tháng 07/2007: Các kịch bản phải được hoàn thành.


- Tháng 08/2007 - 12/2007: Lựa chọn nhà sản xuất và ê kíp cho từng phim.


- Tháng 01/2008: Công bố chính thức từng đoàn phim.


- Tháng 01/2008 - tháng 06/2009: sản xuất phim. Ban chỉ đạo hợp tác chặt chẽ với các hãng phim để theo dõi tiến độ dự án. Tiền tài trợ chỉ được trả từng phần (chia lần lượt thành 10%-30%-20%-30%-10% theo mức tiến độ dự án) khi đoàn phim đạt tiến độ thoả thuận.


- Tháng 07/2009: 10 bộ phim phải được hoàn thành.


- Tháng 08/2009 - tháng 12/2009: Ban chỉ đạo thoả thuận về việc đưa phim ra rạp, chiếu trên truyền hình với các chủ rạp và đài truyền hình.


- Tháng 01/2010 - tháng 10/2010: Các phim lần lượt ra rạp theo tiến độ 2 tháng 1 phim. Tiền vé thu được sau khi trừ phần chia cho rạp sẽ trả vào quỹ làm phim của Ban chỉ đạo.


- Trong tuần lễ có ngày 10/10/2010: tổ chức chiếu lại toàn bộ 5 phim trong một LHP tại thủ đô Hà Nội. trong đó chiếu lại một số phim cũ có liên quan đến Hà Nội. Gala long trọng vinh danh các bộ phim và đoàn phim. 


Một số chú ý:


- Số tiền thu được từ việc bán bản quyền truyền hình sẽ trả vào quỹ làm phim của Ban chỉ đạo.


- Ban chỉ đạo và các đạo diễn lo liệu đưa phim đi LHP Quốc tế trong năm 2010.


- Ban chỉ đạo lo việc quảng bá phim đến với quần chúng thông qua những công ty PR tốt nhất trong nước.


 


Giải pháp số 3: thành lập liên hoan phim quốc tế Hà Nội (Hanoi International Film Festival)


Thay vì làm một phim lịch sử cúng cụ rồi cất kho, hãy dùng số tiền 20 tỷ đồng để thành lập LHP QT Hà Nội (gọi tắt là HIFF) cho tương lai.


Tại sao phải là một LHP QT? Việt Nam chưa hề có một LHP QT đúng nghĩa. Tất cả các nền điện ảnh muốn phát triển phải có sự giao lưu với thế giới thông qua một LHP QT. HIFF sẽ là LHP QT đúng nghĩa đầu tiên tại Việt Nam, sẽ là đòn thúc đẩy quan trọng cho điện ảnh Việt Nam và du lịch Hà Nội, cũng như mang hình ảnh Hà Nội văn minh, hoà bình đến với thế giới. LHP đồng thời củng cố vị trí trung tâm văn hoá của Hà Nội tại đông Dương và xa rộng hơn có thể là đông Nam Á.


20 tỷ có đủ không? đủ cho LHP đầu tiên, còn tổ chức ở quy mô nhỏ. Cho những kỳ tiếp theo, LHP cần sự hỗ trợ của chính phủ, UBND thành phố Hà Nội và các nhà tài trợ.


Làm thế nào để tổ chức LHP? Ai là Ban tổ chức? Câu trả lời cho câu hỏi này tác giả đã có, nhưng vì giới hạn vượt quá khuôn khổ của bài viết này nên sẽ không trình bày ở đây. Chắc chắn Ban tổ chức LHP độc lập với Cục điện ảnh, Hội điện ảnh. Có thể là một BTC độc lập do một công ty mới được thành lập cho riêng LHP nhưng về nguyên tắc trực thuộc Bộ VH-TT.


LHP QT Hà Nội diễn ra lúc nào? HIFF sẽ là LHP thường niên, diễn ra lần đầu tiên vào cuối tháng 10/2010. Thời điểm cuối tháng 10 hợp lý, vì khi đó Hà Nội đã hết mùa mưa, khí hậu mùa thu dễ chịu, Hà Nội khi đó đẹp nhất. Ngoài ra, cuối tháng 9 đầu tháng 10 diễn ra LHP QT Pusan, LHP QT lớn nhất Châu Á. Ngay sau Pusan, Hà Nội sẽ có thể chiếu được những bộ phim vừa tham dự Pusan, thường có premiere Châu Á ở đó. Hà Nội sẽ liên hệ chặt chẽ với Pusan như là một đối tác để việc chọn phim và chuyển bản phim được thuận lợi nhất. Ngoài ra, HIFF vào cuối tháng 10 sẽ không bị đụng hàng với Bangkok (tháng 2) và Singapore (tháng 4).


LHP gồm những danh mục nào? Bước đầu sẽ có các danh mục sau:


- tranh giải cho phim truyện dài quốc tế (Gồm nhiều nhất 10 phim tham dự cho các giải Phim hay nhất, Giải phim do khán giả bình chọn và Giải do các phóng viên văn hoá báo chí trong nước bình chọn)


- tranh giải phim truyện đông dương (Gồm nhiều nhất 5 phim tham dự, trong đó Lào và Campuchia mỗi nước ít nhất 1 phim, cho giải Phim hay nhất)


- tranh giải phim ngắn đông Nam Á (Gồm nhiều nhất 10 phim trong khu vực tham dự cho 1 giải phim hay nhất và 2 bằng khen)


- Toàn cảnh (gồm các phim truyện dài của Quốc tế không tranh giải)


- Phim tốt nghiệp của Sinh viên các trường điện ảnh đông dương (sẽ chọn chừng 10 phim tốt nghiệp hàng năm của sinh viên).


- "Hà Nội trong mắt ai" - danh mục chiếu phim cổ điển có liên quan đến Hà Nội.


Ban giám khảo gồm những thành phần nào? BGK cho 3 mục tranh giải là các gương mặt quốc tế do Ban tổ chức mời làm giám khảo. 


Ai lựa chọn phim tham dự? Sẽ có một ban lựa phim do BTC thành lập.


LHP QT Hà Nội lần thứ nhất vào tháng 10/2010 sẽ là cách hữu hiệu để chào mừng lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, và sẽ là mốc quan trọng thúc đẩy điện ảnh, văn hoá nước nhà tiến gần với bạn bè thế giới.


 


Bài viết bản quyền của Mạnh Cường (c) 27/10/2006






Bạn chọn giải pháp nào cho vấn đề này?




Giải pháp số 1

1


Giải pháp số 2

0


Giải pháp số 3

1


Cả 3 đều không ổn

3


Tôi có giải pháp khác hay hơn (đề nghị viết comment)

0





Sign in to vote

Donnerstag, 26. Oktober 2006

Ai là nhân vật chính?




Trong bức ảnh trên, người quay phim vô tình (hay cố tình) trở thành nhân vật chính của tấm ảnh. Không những thế, của cả tình huống, sự việc.


Thay vì một bộ đồ đen kín đáo, để không bị nổi bật do công việc của người quay phim là bên lề của sự kiện, các nhà quay phim nước ta thường chọn một bộ đồ nổi nhất, điều này đã được kiểm chứng qua nhiều chương trình ca nhạc, hội họp, chiếu phim, lễ phát giải,... mà người viết bài đã được trực tiếp chứng kiến.


Sự không chuyện nghiệp của bộ máy tổ chức được thể hiện từ những điều nhỏ nhặt như thế.


Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Mittwoch, 25. Oktober 2006

Tại sao? - Câu hỏi thiếu của giới trẻ Việt




Cách bạn đặt câu hỏi trước một sự vật hiện tượng thể hiện góc độ mà bạn quan tâm về chúng. Việc này cũng xây dựng cho bạn phản xạ trong những tình huống khác nhau.



1. Ai ? Cái gì? Thế nào?

Phan Lan Hương, một người bạn đang du học ở Malaysia đã kể cho tôi nghe một câu chuyện như thế này: Bằng thời gian này năm ngoái, cả thế giới còn đang bàng hoàng vì thảm họa sóng thần ở Đông Nam Á. Lớp Hương đang học được thầy giáo giao cho một bài tập lớn. Mỗi người phải tự chọn cho mình một khía cạnh mình quan tâm về thảm họa vừa qua để tìm tư liệu viết bài.



Hương đã đầu tư rất nhiều công sức cho bài tập đó: lên mạng lấy thông tin, lấy ảnh, trích những đoạn phỏng vấn người dân... Thậm chí cô còn nhờ vài người bạn ở Thái Lan quay tận cảnh bãi biển Phuket sau thảm họa để đưa vào slide cho sinh động.



Công phu sưu tầm, trích dẫn, tác phẩm của Hương đã tường thuật lại rất cảm động và chân thực khung cảnh điêu tàn và không khí tang thương do sóng thần gây ra. Tuy nhiên, khi nhận được điểm cho bài tập, Hương khá thất vọng: chỉ là điểm trung bình.



Trong khi đó, vài người bạn nước ngoài của cô lại đạt điểm khá, mặc dù bài làm không được công phu bằng. Vậy yếu tố quyết định ở đây là gì? Câu trả lời của thầy giáo đã làm Hương, cũng như tôi, người chỉ nghe thuật lại câu chuyện phải giật mình: Khi làm bài tập bạn đã đặt câu hỏi nào?



Hương đặt cho mình câu hỏi “Ai? ở đâu? Như thế nào?” và trả lời bằng một bài viết hoành tráng để miêu tả hiện tại. Trong khi đó, những người bạn nước ngoài lại đặt câu hỏi “Tại sao sóng thần lại gây ra hậu quả thảm khốc đến thế?” và từ nghiên cứu đó rút ra những bài học sau này.



Không thể bàn đến yếu tố chuyên môn, đúng hay sai, trong bài học mà những người bạn nước ngoài đã đề cập đến trong bài viết của họ. Tôi muốn nói đến cách họ nhìn cuộc sống. Cách họ phản ứng với nó.



“Ai? Cái gì? Thế nào?” là câu hỏi dành cho hiện tại. Tất cả chúng ta đều quen với cách hỏi ấy từ rất lâu rồi, đến nỗi nó bật ra như một phản xạ không điều kiện khi có chuyện gì bất ngờ xảy đến.



Những câu hỏi quen thuộc ấy chứng tỏ rằng bạn quan tâm đến những điều đang hiển hiện trước mắt hơn bất cứ gì khác. Trong khi bạn quên mất một điều là, nó mới dừng lại ở mức độ giúp con người nhận thức được sự việc chứ chưa thể dẫn chúng ta đến một giải pháp hay cái gì thiết thực hơn.



Trong khi đó, “Tại sao?” là câu hỏi tưởng như để tìm hiểu quá khứ nhưng thực ra lại thể hiện mối quan tâm đến tương lai. “Tại sao?” mới chính là câu hỏi quan trọng nhất. Nó giúp ta hiểu được mình đã làm gì đúng, và làm gì sai, từ đó rút ra những kinh nghiệm cần thiết cho bản thân trong tương lai.



Bạn thường hay đặt câu hỏi nào cho mình? Cuộc sống của bạn sẽ nói lên điều đó. Câu hỏi “Tại sao?” tạo cho bạn một phản xạ nhanh nhạy theo hướng tìm cách giải quyết nhanh nhất cho sự việc mới phát sinh.



Câu hỏi “Ai? ở đâu? Thế nào?” đòi hỏi bạn nhiều thời gian hơn để xác định phương hướng. Trước một đám cháy, người hỏi “Tại sao cháy?” sẽ tìm đến nguồn lửa để dập tắt. Còn người hỏi “Cháy ở đâu? To không?” sẽ còn quan tâm xem có bao nhiêu nhà bị cháy? Đó là cửa hàng nào?... Và đến khi nhận thức được việc mình cần làm thì đã quá muộn.



Trong câu chuyện của Hương, sau khi thảm hoạ xảy ra, điều chúng ta cần quan tâm là làm thế nào để khắc phục hiện tại? Làm sao để lần sau không còn thảm họa như thế xảy ra nữa? Thái độ đó sẽ thực tế hơn nhiều so với việc than khóc cho những điều đã xảy ra, không thể thay đổi được.



Những người Việt Nam đang học tập ở nước ngoài đã công nhận rằng “Tại sao?” là câu hỏi quen thuộc của những người bạn ngoại quốc. Chính vì thế mà họ có “cảm giác nhanh nhạy” hơn các bạn trẻ Việt Nam.



Việc đi tìm câu trả lời cho câu hỏi của mình giúp họ hiểu sâu hơn về vấn đề, và quan trọng là biến những kiến thức sách vở thành kiến thức “sống”. Càng trong những trường hợp khẩn cấp cần phản ứng nhanh thì “cảm giác nhanh nhạy” của họ càng phát huy tác dụng.



Phương Thảo (du học sinh ở Nhật): “Khi tôi mới sang đây, tôi khá tự tin vì mình chăm chỉ và thông minh. Tuy nhiên sau một thời gian, tôi nhận ra rằng mình chỉ mới biết những điều trong sách vở. Trong những hoạt động thực tế, vào phòng thí nghiệm hay hoạt động xã hội chẳng hạn, trong khi du học sinh Việt Nam còn rất lúng túng thì các bạn nước ngoài lại hoàn toàn chủ động!”.



Quang Việt (du học sinh Mỹ): “Khi cùng làm thí nghiệm Hoá học, nếu như kết quả ra khác với tính toán lí thuyết thì học sinh Việt Nam sẽ lo lắng tìm cách “ăn gian” cho ra đúng kết quả. Còn học sinh Mỹ thì lại mày mò tìm xem yếu tố bất thường nào đã xen vào. Thế là từ lần sau, họ biết cách điều chỉnh thí nghiệm, còn tôi vẫn cứ loay hoay tìm cách “ăn gian”!”.



2. Những câu hỏi “Tại sao?” không được khuyến khích

Tôi hỏi một người bạn thân rằng có hay hỏi “Tại sao?” trước một sự việc không? Anh cười và bảo “Đấy là câu hỏi chỉ có bọn con nít mới hay hỏi!”. Tôi thấy đúng. Chúng ta ai cũng lớn lên từ những câu hỏi “Tại sao?” thời thơ bé. Câu hỏi đó như một bản năng, ai muốn trưởng thành cũng phải tự đi tìm câu trả lời cho mình. Nhưng rồi càng lớn, chúng ta càng ít hỏi câu hỏi quan trọng nhất ấy. Đó là kết quả của cách giáo dục truyền thống mà nhiều thế hệ đã trải nghiệm.



Đứa cháu họ của tôi, mới có 5 tuổi, nhìn thấy cái gì quanh mình cũng quay ra hỏi mẹ “Tại sao lại thế?”. Lúc đầu chị còn trả lời, sau rồi khó chịu gắt bẳn làm nó khóc oà lên. Dần dần tôi không thấy nó hỏi “Tại sao?” nữa. Mẹ bảo gì là răm rắp nghe theo, thế là được khen là ngoan, được ăn kẹo, được đi chơi cuối tuần.



Chính bản thân tôi, hồi còn lớp 2, trong giờ Tiếng Việt, đã giơ tay hỏi cô giáo “Tại sao người ta lại nói là “chợ búa”?”. Cô suy nghĩ một lát rồi chẳng trả lời. Tôi hỏi lại mấy lần, bị cô giáo mắng “Còn bé mà cứ thích vặn vẹo người lớn!”. Thế là thôi, từ đấy cũng biết ... khôn ra, chẳng bao giờ vặn-vẹo-người-lớn nữa.



Lên cấp THCS và THPT, nhiều người vẫn còn giữ cho mình thói quen hỏi “Tại sao?” khi chưa hiểu điều gì trong bài giảng của thầy cô giáo. Nhưng không nhiều trong số họ nhận được sự khích lệ từ giáo viên, hay từ những người bạn cùng lớp của mình.



Trần Thanh An (ĐH KHTN, ĐHQG): “Trong những giờ Vật lý đầu tiên được học, tôi rất hay giơ tay thắc mắc khi chưa hiểu chỗ nào đó. Những gì tôi nhận được sau những câu hỏi thường là ánh mắt kì quặc của bạn bè và một thái độ không mấy dễ chịu của thầy cô”.



Nhiều khi, những câu hỏi “Tại sao?” bị gác lại đến cuối giờ hoặc để dành đến tiết bài tập, và thường bị lãng quên nhanh chóng. Hoặc là thầy cô giáo đã không đủ nhiệt tình để giải thích cặn kẽ cho học sinh hiểu. Hoặc là sức ép phải “chạy” cho hết giáo án trong vòng 45 phút đã không cho thầy cô có thời gian dừng lại.



Dần dần, Thanh An thoả hiệp với cách chấp nhận những kiến thức được dạy theo kiểu photocopy. Và với những lĩnh vực đặc biệt như giáo dục giới tính thì lại càng khó khăn hơn với câu hỏi “Tại sao?”. Bởi bức tường “tế nhị”, “nhạy cảm”... luôn nhảy ra ngăn chặn kịp thời. Thói quen hỏi cũng mất dần.



Bước vào giảng đường đại học? Không có chỗ cho những câu hỏi ngoài ... giờ thi vấn đáp. SV nhiều khi cứ học vẹt theo những dòng chữ trong giáo trình mà cũng không hiểu lắm. Chẳng mấy ai đặt câu hỏi “Tại sao nó lại thế này, thế kia?”. Sự thụ động ấy gần như đã trở thành bản chất chung cho nhiều người Việt trẻ bây giờ.



3. Không thể chỉ trách người!

Người đặt câu hỏi là các bạn. Nếu thực sự khao khát câu trả lời, các bạn có thể tự mình đi tìm trước khi có ai đó mang sẵn đến cho mình.



Trở lại câu chuyện của Trần Thanh An (ĐH KHTN ĐHQG). An có vẻ rất bức xúc khi nói đến những câu hỏi “Tại sao?” bị bỏ xó của mình từ những ngày cấp II. Nhưng khi tôi hỏi lại rằng “Bạn có tìm thêm sách tham khảo để tìm hiểu hoặc hỏi anh chị lớn trong nhà chứ?”, An tảng lờ.



Lí do An có thể đưa ra rất nhiều: “không có thời gian”, “không biết sách nào mà mua”... Nhưng đó rõ ràng chỉ là cách biện hộ. Nếu chỉ đặt câu hỏi và không có nỗ lực tự trả lời, nhiều khi câu hỏi “Tại sao?” của bạn chỉ để thoả mãn tính tò mò nhất thời.



Dù sao Thanh An cũng đã đặt cho mình câu hỏi quan trọng ấy. Còn những bạn trẻ chỉ ưa chuộng “Ai? Thế nào? ở đâu?”, họ vẫn còn giữ tâm lí đối phó. Hành động “ăn gian” của Quang Việt (du học sinh Mỹ) trong phòng thí nghiệm chính là minh chứng: đối phó với thầy giáo, quan tâm đến điểm số hơn là bản chất của thí nghiệm.



Chính trong buổi thí nghiệm đó, Việt đã thua các bạn nước ngoài. Họ học được bài học kinh nghiệm cho những lần sau, còn Việt vẫn cứ mãi phải đối phó, vẫn “gạo vì điểm”. Việt đã không nhận ra rằng những bài học lí thuyết trên lớp chỉ để phục vụ cho những hoạt động thực tiễn. Cậu chạy theo điểm để rồi lỡ mất bài học thực sự cho mình.



Xét cho cùng, sự khác nhau trong cách nhìn nhận sự việc, cách quan tâm đến cuộc sống giữa những người trẻ Việt và bạn bè thế giới đã phản ánh rất rõ sự khác nhau trong tầm nhìn. Tủn mủn với những điều nhìn thấy trước mắt là cách hành xử của tầm nhìn ngắn hạn. Đi tìm nguyên nhân, giải pháp và đúc kết bài học cho tương lai mới là thái độ của những người có tầm nhìn vượt qua “ngày hôm nay” của chính mình.



Đứng thẳng lên đi. Và hãy bắt đầu nhìn ra xa hơn với câu hỏi “Tại sao?” cho bản thân mình.



(Sinh viên Việt Nam)



Source: www.voanhtu.com

Dienstag, 24. Oktober 2006

Gọi tên bốn mùa

Spring


How perfectly simple


Spring appeared today:


a subdued blue sky.


(Essa, 1763 -1827)


Xuân


Thật giản đơn quá


Xuân về hôm nay:


một bầu trời xanh thẫm


 


Summer


Summer on earth!


It floats over the lakes,


over the waves.


(Bashò, 1644 - 1694)


Hạ


Mùa hạ!


Dập dìu trên hồ,


trên những con sóng.


 


Autumn


Autumn arrives slowly;


A light is turned on in a house;


Darkness has not yet fallen.


(Buson, 1715 - 1783)


Thu


Thu đến chầm chậm;


Trong nhà đèn đã thắp sáng;


Bóng tối vẫn chưa buông.


 


Winter


Solitary winter landscape;


In a world of one colour


The voice of the wind.


(Bashò, 1644 - 1694)


Đông


Cảnh đông lặng lẽ;


Trong thế giới một màu


Tiếng gió thổi.


(Dịch bởi Marcus)

Montag, 23. Oktober 2006

Lê Vân yêu và sống: Chỉ tại ông Trương Nghệ Mưu

(Theo TuoiTre)


Image
Lê Vân trong phim Đêm hội Long Trì (đạo diễn Hải Ninh)
TT - Có hai lĩnh vực nghệ thuật và tình yêu, tôi là người phụ cả hai. Với tình yêu, tôi được yêu, với nghề nghiệp, sự thành công đến quá dễ dàng... thế mà tôi cũng xuống tóc bỏ hết. Như muốn lánh đời... Tại sao vậy?

>> Kỳ 6: Một khi lòng đã chán

>> Kỳ 5: Những người đạo diễn của tôi

>> Kỳ 4: Những ngày khổ luyện

>> Kỳ 3: Cuộc đời buồn của mẹ

>> Kỳ 2: Vân ơi, Vân là ai?

>> Kỳ 1: Tuổi thơ ngắn ngủi


Tốt nhất là dừng lại...


Trong cái bối cảnh làm nghệ thuật kiểu cẩu thả, được chăng hay chớ này, có cố cũng không hơn được, và không biết bao giờ mới thay đổi để hơn được. Nghĩ mình chưa làm được gì, chưa làm gì ra hồn. Làm ra một bộ phim đâu phải chỉ có riêng mình, đâu phải mình muốn làm hay mà nó thành hay được. Công việc không độc lập, mình phải phụ thuộc rất nhiều vào người khác. Bên múa thì là biên đạo múa, là âm nhạc, bên phim còn nhiều hơn. Cho nên, nếu là người nghiêm khắc với bản thân thì mình nên thôi. Giống như ông Dương Trung Quốc, nhà sử học dạo này rất hay xuất hiện trước truyền hình, có nói rằng các bộ trưởng, các lãnh đạo của ta không có văn hóa từ chức. Nghe thế, tôi thấy, có lẽ mình cũng là người có lương tri, vì mình “biết từ chức”, thôi không làm nghề nữa.


Có lẽ cái giá trị nhất với tôi trong những ngày đi đóng phim là những kỷ niệm. Mỗi một cảnh có mình, khi xem lại tôi đều nhớ lúc quay cảnh đó ra sao. Đặc biệt nhớ lại tuổi trẻ của mình. Non nớt có, ngờ nghệch có. Ngay từ ngày ấy tôi đã có ý thức nâng niu gìn giữ tất cả những tấm ảnh, những bài báo thời gian làm phim và các thành viên đoàn phim. Chúng tôi gắn bó với nhau đến cả vài tháng trời, cùng làm việc rồi lại tan ra mỗi người đi một hướng. Ngay từ thời đó tôi luôn nghĩ phải gom lại, giữ lại tất cả những kỷ niệm này, nó sắp hết rồi. Phim quay xong lại sang một đoàn khác, có những kỷ niệm khác. Trong tôi luôn có một sự gấp gáp thôi thúc nhắc nhở rằng đây là những kỷ niệm sẽ để lại trong mình mãi mãi…


Vì thế, khi cắt tóc bằng tôngđơ, chẳng còn chút lưu luyến nào với cả sân khấu lẫn điện ảnh nữa… là cũng phải trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần chứ không dễ dàng gì.


Gia đình tôi bảo tôi dại, giá mà cố nấn ná thêm một năm nữa rồi hãy dừng, tôi sẽ có tất cả. Mọi người muốn nói đến danh hiệu nghệ sĩ nhân dân như đã ở trong tầm tay. Tôi biết điều đó. Chẳng phải vận động ai, xin xỏ ai. Đến kỳ hạn chắc chắn họ sẽ xét đến. Tôi tự thấy chứ không phải tôi tự mãn. Mọi người tiếc vì tôi đã để trượt khỏi tay cái mà mọi người thèm muốn và rất khó khăn mới đạt được. Nhưng tôi lại nghĩ khác.


Tôi hỏi bố, một nghệ sĩ nhân dân về hưu, rằng: nghệ sĩ nhân dân như bố để làm gì hay chỉ là cái danh hão? Và cụ phải công nhận đúng thế thật. Bây giờ nhà cửa không có, không nương tựa vào con cái làm sao sống được bằng chút lương hưu còm! Thế chẳng phải danh hão ư? Tôi không thích cái danh hão ấy. Còn cô Khanh, con đường nghệ thuật còn dài, được phong nghệ sĩ nhân dân rồi, thế là hết ư? Chẳng còn danh hiệu nào để phấn đấu nữa à? Nếu vẫn muốn phấn đấu nữa thì sao? Không hơn được nữa à? Với tôi, sẽ là quá chán, quá nhàm nếu phải nấn ná thêm một hai năm nữa chỉ để đạt cái NSND rồi thôi, vì đến đỉnh rồi! Cái chính là trong con người mình còn muốn một cái gì đó hơn thế, và tôi đủ tỉnh táo để thấy mình không thể đạt được cho nên tốt nhất là dừng. Dừng một cách nhẹ nhàng, thanh thản không nuối tiếc.


Cú sốc


Ngẫm lại các vai diễn của bản thân mình từ bấy lâu nay, hình như nó không phải là điện ảnh hay sao ấy? Vậy nó là cái gì nhỉ? Hóa ra, chính mình vì may mắn và được ưu ái mà nổi lên thôi. Người ta nhặt tôi về, biến tôi thành những chị Dậu, chị Duyên. Rồi nương theo đó, tôi cũng đã hồn nhiên tự nhận về mình nhiều thứ. Trong suốt những năm tháng tham gia đóng phim, tôi cũng đã rất ý thức với việc chọn lựa vai diễn, chọn lựa đạo diễn, rồi lao động hết mình cho bộ phim để không bị rơi vào sự sáo mòn tầm thường. Thế mà bây giờ nhìn lại, hình như vẫn chỉ là nghiệp dư. Phải dừng thôi. Tất cả những ý nghĩ này tôi chẳng dám thổ lộ với ai, chỉ phản ứng bằng cách tự hành hạ bản thân. Tức là đoạn tuyệt. Bởi có tiếp tục nữa, cố gắng nữa cũng chỉ đến thế mà thôi. Nhiều khả năng là chẳng được như thế nữa.


Nghệ sĩ, theo tôi, nhất định phải là những kẻ sáng tạo. Ví dụ, một cuốn phim ra đời nghĩa là người đạo diễn phải đưa ra được một thông điệp mới hoặc một phương pháp biểu hiện mới. Nếu không làm người xem thay đổi được nhận thức, chí ít cũng phải mang lại những rung cảm thẩm mỹ nhất định. Một tác phẩm điện ảnh không thể đơn giản là kể lại một câu chuyện phim. Điện ảnh Việt Nam, đáng tiếc, mới chỉ dừng lại ở mức kể một câu chuyện bằng hình ảnh. Có đạo diễn biết kể một cách thông minh, tinh tế, người khác lại kể một cách thô thiển, vụng về. Hiếm hoi lắm mới có đạo diễn kể được câu chuyện phim một cách hấp dẫn hay ấn tượng. Và trên hết, các đạo diễn Việt Nam đều muốn truyền đạt một thông điệp to lớn mang tính nhân loại, nhưng cứ vá víu, loạng quạng chẳng đến đầu đến đũa gì cả.

Bởi vậy tôi đã bị tác động rất mạnh khi gặp được những giải đáp, băn khoăn của mình từ một đạo diễn nước ngoài, ông khiến tôi như bị một cú đánh thức tỉnh khỏi cơn mộng dài u mê. Những bộ phim của ông đã đánh gục tôi. Đó là đạo diễn Trương Nghệ Mưu của Trung Quốc.


Ngay từ bộ phim đầu tiên của ông chiếu ở Việt Nam, tôi đã bị chinh phục hoàn toàn. Lập tức, tôi tìm xem tất cả những phim của ông với lòng say mê ngưỡng mộ vô cùng. Tôi thầm nhủ: trời ơi, đây chính là thứ điện ảnh mà mình mong muốn cho Việt Nam. Đây chính là thứ thẩm mỹ nghệ thuật mà mình mơ ước được cống hiến.


Xuất thân là một nhà quay phim nhưng ông không ngừng tìm tòi, học tập để xuất hiện như một nhà làm phim có đẳng cấp quốc tế. Mỗi cuốn phim mới của ông là một sự phủ định cái trước. Ông tìm tòi cái mới mà không hề sợ thất bại. Ông đã đánh trúng vào nỗi khao khát của tôi về một thứ thẩm mỹ nghệ thuật kiểu như thế. Đúng là tôi bị sốc nặng. Sau cú sốc, tỉnh mộng, tôi nhìn lại mình, nhìn lại những bộ phim mình đã làm và nhìn rộng ra toàn cảnh bức tranh điện ảnh Việt Nam, tôi đau xót nhận ra một sự thật: những thứ đó chưa phải là nghệ thuật điện ảnh.


Tôi thấy mình như bị tắc tị, bị rơi vào ngõ cụt. Không lối thoát.


Tôi chỉ muốn gào lên với các đạo diễn Việt Nam rằng: các anh ơi, hãy tìm tòi đi, sáng tạo đi, tìm ra một lối thoát cho điện ảnh Việt Nam đi... Và vì biết rằng không bao giờ tôi đủ dũng cảm để đưa ra cái đòi hỏi chính đáng ấy nên chỉ có một phản ứng yếu ớt: câm lặng, xuống tóc, tự tiêu diệt con người sáng tạo của mình bằng cách thôi không đóng phim nữa. Tôi âm thầm vụng trộm mơ ước đến ngày điện ảnh Việt Nam cho ra đời một đạo diễn đầy cá tính, thích phá phách kiểu như thế. Cứ cho là không thể thành công ngay, nhưng chí ít họ cũng dám sáng tạo, khai hoang tìm một con đường đi của riêng mình.


Sẽ thật khôi hài nếu nói tôi bỏ nghiệp diễn chỉ tại ông Trương Nghệ Mưu!


Nhưng, đúng là như vậy đấy! Ông thức tỉnh tôi đồng thời cũng giết chết những khao khát làm nghề của tôi. Tại sao lại là ông? Trên thế giới còn có biết bao nhiêu đạo diễn tài năng xuất chúng khác? Bởi vì, thứ nhất, ông là người châu Á da vàng mũi tẹt tóc đen như mình, rất gần gũi với mình. Ông xuất thân từ một đất nước có tầm văn hóa đời sống và văn học nghệ thuật đương đại đang phát triển như mình. Nghĩa là, không thể nói ông là kết quả của nền giáo dục - đào tạo của Trung Quốc. Tất cả là do nỗ lực cá nhân. Ông ta muốn phá phách, nổi loạn, tìm tòi. Ông là niềm mơ ước không chỉ của điện ảnh Việt Nam mà còn của khán giả yêu điện ảnh Việt Nam. Bởi phim của ông rất gần gũi với người châu Á, mang đậm chất phương Đông. Tại sao đạo diễn mình không học?


Số tử vi của tôi là vũ khúc tham lang, hoàn toàn làm công tác nghệ thuật mặc dù đâu có muốn, đâu có yêu. Là đàn bà nhưng lại dương nữ, mang tính khí đàn ông. Thân lập thân chứ chẳng nhờ vả được ai. Có chút tài hoa. Con đường nghệ thuật ngắn. Sự nghiệp đang lên thì dừng đột ngột. Tại tử vi nói thế hay là…


...chỉ tại ông Trương Nghệ Mưu!


Tự truyện của LÊ VÂN - BÙI MAI HẠNH thể hiện

Lê Vân yêu và sống: Một khi lòng đã chán

(Theo TuoiTre)


Image
Ảnh: Duy Anh
TT - Một ngày cuối năm 1995, khoảng bốn giờ chiều, tôi xách xe máy ra một người thợ quen. Xuống tóc.

>> Kỳ 5: Những người đạo diễn của tôi

>> Kỳ 4: Những ngày khổ luyện

>> Kỳ 3: Cuộc đời buồn của mẹ

>> Kỳ 2: Vân ơi, Vân là ai?

>> Kỳ 1: Tuổi thơ ngắn ngủi


Hỏi: Có muốn thử không? Cắt ngắn dần xem thế nào rồi tính tiếp?


Trả lời: Không. Đã quyết rồi. Không thử. Cứ cắt. Cắt thật ngắn. Phăng teo mớ tóc dài thuần Việt.


Bởi: Trong lòng đã chán, chán tất cả. Vậy thì: cắt tóc, bỏ nghề và… Chẳng cần tuyên bố gì!


Gần đây, đạo diễn Vương Đức có đến chơi, chuyện gẫu nhắc lại thời kỳ “xuống tóc” ấy cứ hỏi tôi lý do tại sao. Khi Vương Đức làm phim Cỏ lau có mời tôi vào một vai, nhưng rồi không bắt gặp nhau thế nào đó, không hợp tác được. Vì là thời kỳ chán tất cả nên từ chối cũng dễ dàng, thấy không ổn thì thôi chứ cũng chẳng cố làm gì. Rồi đến phim Cây bạch đàn vô danh, đạo diễn Thanh Vân cũng mời, tôi cũng từ chối. Rồi đạo diễn Lưu Trọng Ninh cũng mời làm phim Bến không chồng, Ninh nói: “Đọc đi, mời Vân một trong hai vai, tùy bạn chọn”. Lúc ấy vẫn chưa cắt tóc. Vừa mới đóng phim Lời thề. Nếu không bị chán nản, chỉ sau một hoặc hai năm thôi, tôi đã làm được một khối lượng lớn phim có giá trị văn học. Chẳng hiểu sao tôi không ham cũng chẳng luyến tiếc.


Vương Đức hỏi dò: “Vì sao Vân lại thôi, như ở nước ngoài người ta phải tuyên bố lý do. Khán giả yêu mến vẫn hỏi lý do vì sao Vân thôi, ít nhiều cũng phải tuyên bố chứ. Phải hứa nhé, sau đây phải tuyên bố nhé”. Hình như Vương Đức đang phụ trách một mục gì đó trên báo. Tôi nửa đùa nửa thật bảo: “Này, tôi là dân ngoại đạo chứ có phải dân chuyên nghiệp đâu mà cần tuyên bố”. Nhưng Vương Đức vẫn cố khai thác: “Thôi thì ngồi riêng với nhau nói chuyện bạn bè vậy, tại sao lại không đóng phim nữa?”. Bị gặng hỏi sát sạt theo kiểu “khủng bố” như vậy tôi chỉ biết cười trừ, gật gù, nhưng trong lòng nhói lên một câu nói của Ruồi Trâu: “Xác chết rồi nên để nằm yên, bới lên làm chi?”.


Từ đâu đó thăm thẳm trong tim...


Image
Lê Vân những ngày tóc ngắn - Ảnh tư liệu
Không dễ nói một cách thật cụ thể vì sao tôi không muốn làm nghề nữa. Có quá nhiều thứ dồn nén, chi phối khiến tôi thấy vô cùng mệt mỏi, chán nản. Bỗng nhiên chỉ nhìn thấy toàn những mặt trái của cuộc sống, đặc biệt là của những người làm nghệ thuật.

Có lẽ sự chán nản đã ủ mầm từ lâu và chỉ vỡ bục ra vào năm 1995 đáng nhớ ấy. Sau hội diễn đầu năm ở Cần Thơ, dù được trao giải nghệ sĩ xuất sắc lần ba nhưng trong tôi vẫn chẳng sống lại được chút tinh thần sáng tạo nào. Suốt một năm làm việc bận bịu mà cứ lờ mờ nhận thấy một cái gì đó không ổn. Giống như là mất mát, trống rỗng, hẫng hụt. Như là vỡ mộng. Nói vỡ mộng không hẳn đúng vì lúc đó tôi không còn ngây thơ đến mức quá thần thánh điều gì nữa, nhưng cái vỡ mộng đây là về nhân cách con người, cụ thể là nhân cách nghệ sĩ.


Trước kia, do chưa trưởng thành nên chưa đủ tầm nhìn, sự quan sát để nhận thấy điều đó. Cái điều đã và đang tồn tại bấy lâu nhưng mình còn quá trẻ để nhận thức, hoặc do mình còn làm việc một cách rất thụ động. Nhưng dần dần, bằng thực tế làm việc, tôi nhận chân ra được những sự thật khủng khiếp tàn bạo. Cái sự thật chẳng ai dạy dỗ mà do tôi phải tự hớp lấy, thâu nạp lấy. Không biết phải tin vào ai, tin vào cái gì nữa. Thế là thấy chán.


Chán từ đâu đó thăm thẳm trong tim. Chán đến thở hắt ra ngoài miệng. Chán cả “hai người tình” nghệ thuật sân khấu lẫn điện ảnh cùng một lúc. Chán không thể gượng lại được nữa.


Có lẽ cái quan điểm làm nghệ thuật của tôi khác đời quá chăng. Đến với nghệ thuật, trước hết phải có một sự đồng cảm. Khi đã gặp được một ý tưởng hay từ kịch bản, từ đạo diễn thì sẵn sàng làm hết mình, không đắn đo đòi hỏi. Với tôi, chưa bao giờ chữ tiền được đưa ra thảo luận. Vấn đề là phải thích công việc đó. Tôi không chấp nhận được cái thực tế quá phũ phàng, quá đời. Không chịu được những mặt trái của nó, thế là tự mình làm khổ mình. Hóa ra, người ta làm điện ảnh không phải không vì chữ tiền...


Dần dà nói đến một bộ phim, người ta chỉ bàn đến chuyện bộ phim này có tổng kinh phí bao nhiêu, kiếm được bao nhiêu tiền chứ không phải nó có tác động xã hội hay giá trị thẩm mỹ ra sao! Sau mỗi bộ phim, ai cũng thấy các thành phần chính của đoàn làm phim ngày một giàu có lên. Nhưng đáng tiếc là cư xử của họ với diễn viên, với công nhân làm phim lại tệ đi, giảm chi để tận thu tối đa cho bản thân. Thế có nghĩa là ăn chặn. Ví dụ, một bộ phim có tài trợ nước ngoài, tổng dự toán cao thì anh phải trả thù lao cho những người lao động cùng anh cao hơn, không thể rẻ mạt như những phim bình thường. Bộ phim là công sức của cả tập thể chứ đâu phải của riêng anh!


Ngược lại, làm phim xong, anh ra sức đánh bóng tên tuổi của mình mà quên hết những người khác. Như vậy là không công bằng. Cuối cùng, hiển nhiên, tất cả đều trở thành công cụ cho một vài người bóc lột. Họ cũng chỉ ăn lương của điện ảnh, vậy cái gì làm họ giàu lên? Bớt xén cảnh quay, chi phí ít đi, tiền thừa ra sẽ chảy vào túi ai? Trong khi đó, với công luận, họ lem lẻm nhân danh làm nghệ thuật; trên trường quay, họ lem lẻm hô hào người khác phải hi sinh cho nghệ thuật! Tình trạng đó lúc đầu còn kín đáo, về sau thì trắng trợn, nó đầu độc môi trường làm nghệ thuật khiến người ta chỉ nghĩ về nó thôi đã thấy ngạt thở. Thấy mình bị lừa. Một câu hỏi day dứt không nguôi: Tại sao mình lại phải chịu để cho người ta lừa?


Chưa bao giờ tôi đủ dũng cảm để hỏi thù lao vai diễn của mình được bao nhiêu. Chả hiểu tại sao cứ thấy rất ngại ngùng khi nói về tiền bạc trước một vai diễn. Cứ như thể sẽ bị người ta đánh giá… Trong quá trình làm phim, thỉnh thoảng được tạm ứng cho một chút, hết quay phim cũng vừa lúc hết tiền. Thời đó bắt đầu hình thành các nhóm biểu diễn được gọi là đi “đánh quả”. Sau vài cú bị lừa họ tỉnh ngộ, hỏi thẳng rằng vai diễn này tôi được thù lao bao nhiêu. Mọi thứ đều phải chẻ hoe ra. Phải tạm ứng trước bao nhiêu? Sau diễn thanh toán nốt ra sao? Nếu không đáp ứng đúng hợp đồng, họ không làm.


Sự bóc lột ngọt ngào


Đối tượng bị bóc lột nhiều nhất chính là những diễn viên quần chúng trong những cảnh đông người. Họ thường đi đến những đơn vị bộ đội, những công trường, những trường học... nơi dễ dàng huy động một đám đông lớn vào vai quần chúng để quay những đại cảnh.


Lần ấy, đoàn phim quay cảnh chiến đấu tại một tỉnh gần biên giới và tất nhiên, bộ đội đóng quân gần đó được mời làm diễn viên quần chúng. Chỉ huy bảo sao nghe vậy. Họ bị bảo đi đóng phim mà chẳng có lương hay bồi dưỡng. Vì đoàn phim làm việc với chỉ huy chứ có làm việc với từng cá nhân đâu. Những người làm phim đánh vào tâm lý được lên hình, lên phim, được thấy mình đâu đó vài giây là hãnh diện tự hào rồi chết luôn cũng được chứ đâu cần đến tiền. Những người lính đâu biết rằng tất cả những lao động lớn nhỏ đó đều được tính chi li vào tổng giá thành làm phim rồi. Ăn bao nhiêu, bồi dưỡng bao nhiêu đều có cả. Các nhà tài trợ, các nhà quản lý đã tính toán rất kỹ làm sao đảm bảo sức khỏe cho diễn viên quần chúng chịu đựng được áp lực trường quay... Ấy vậy mà có rất nhiều chú lính bỗng nhiên lăn đùng ra... bất tỉnh nhân sự.


Lặng lẽ quan sát, tôi lờ mờ nhận ra đang có cái gì đó rất bất nhẫn ở đây. Cứ tưởng tượng, một người con gái gầy gò mảnh khảnh như tôi vẫn có thể chịu được áp lực trường quay, tại sao bộ đội to khỏe thế lại ngất? Họ ngất không phải vì vất vả, bị quá sức mà vì họ không thể chờ đợi lâu hơn được nữa dưới cái nắng chang chang của đồi trọc. Họ bị đói, bị khát. Giờ ăn trưa họ phải núp dưới gầm ôtô để ăn. Mà ăn cũng chẳng có giờ giấc nào cả. Thậm chí nước cũng không mang đến đủ cho họ uống. Trên những quả đồi trận địa Xuân Mai giả làm cảnh đánh nhau, những người lính hồn nhiên ra trường quay từ sáng sớm ngồi chờ, bao giờ đến lượt quay thì được gọi, mà cũng phải tập đi tập lại đội hình theo chỉ đạo của đạo diễn. Trông các chú lính trẻ măng, ngây thơ ngất lên ngất xuống thật đáng thương.


Tôi cứ miên man suy diễn như vậy và thấy thật đau đớn xót xa cho phận nước sông công lính, công cụ của mấy người nhân danh nghệ thuật làm tiền. Đấy chỉ là một ví dụ nhỏ về sự bóc lột ngọt ngào. Trên thực tế có hàng vạn điều bất nhẫn như thế xảy ra, ai biết đấy là đâu. Nhưng với tôi, nỗi đau ấy cứ len lỏi tấn công vào điểm yếu của mình, nó ngấm dần ăn sâu thành một nỗi thất vọng mênh mông về nhân cách của những cộng sự tôi từng yêu mến và kính trọng.


Và một câu hỏi nhói lên: những người lính đang bị bóc lột, bị lừa mị, còn mình, mình hơn gì họ, mình bị lừa hay chính mình đang tự lừa mình đây?


Tự truyện của LÊ VÂN

BÙI MAI HẠNH thể hiện

Lê Vân yêu và sống: Những người đạo diễn của tôi

 (Theo TuoiTre)


Image
TT - Năm 1979, làm phim Những con đường với cụ Nông Ích Đạt về xem nháp thấy mình ngớ ngẩn quá, bù lại tôi có một niềm vui lớn: được hai cụ nhận làm con gái nuôi. Các cụ lên nhà, gặp bố mẹ nói: “Chúng tôi muốn nhận nó làm con nuôi, gọi là con thế thôi, chứ chúng tôi nuôi gì được nó”.

>> Kỳ 1: Tuổi thơ ngắn ngủi

>> Kỳ 2: Vân ơi, Vân là ai?

>> Kỳ 3: Cuộc đời buồn của mẹ

>> Kỳ 4: Những ngày khổ luyện


Cụ Nông Ích Đạt thật thà


Thương hai cụ không con, lại thương hơn khi nghe chuyện trước đấy vì bất mãn, hai cụ rủ nhau quyên sinh nhưng không chết. Tối hôm trước khi quyên sinh các cụ đi chào hỏi suốt lượt hàng xóm rồi về uống thuốc. Sáng hôm sau, cụ bà mê mệt như sắp đi, cụ ông thở rất to đến nỗi hàng xóm cũng nghe thấy. Họ như linh cảm thấy điều chẳng lành bèn đạp cửa xông vào, đưa hai cụ đi cấp cứu.


Nghe chuyện thương quá, các cụ cũng yêu quí tôi, hai bên đi lại chăm sóc nhau. Thỉnh thoảng tôi xuống thăm các cụ. Đôi khi cụ ông được cụ bà sai đi chợ, lại đạp xe vòng lên thăm tôi. Rất tự nhiên, một sợi dây tình cảm nối liền chúng tôi. Đi nước ngoài về, bao giờ tôi cũng cố gắng có chút quà nhỏ tặng hai cụ.


Lần đầu tiên đi Pháp, dành dụm mua được hai chỉ vàng, tôi giữ cho mình một chỉ, một chỉ biếu hai cụ. Các cụ rất nghèo, cả tài sản chỉ có một cái sổ tiết kiệm lấy lãi hằng tháng, phụ thêm vào lương chứ chả biết buôn bán gì. Sau này một chỉ vàng chẳng là gì, nhưng lúc bấy giờ thì quí lắm, hai cụ cứ khoe mãi với mọi người ở cùng khu tập thể.


Cụ Đạt là người hiền lành, sống chân thành, thật thà cả ngoài đời lẫn trong nghệ thuật. Xuất thân từ dòng dõi con nhà quyền quí, lại được đào tạo với chuyên gia nước ngoài từ lớp đạo diễn đầu tiên, cụ Đạt đã có những thành công nhất định với bộ phim Kim Đồng làm về quê hương rừng núi của cụ.


Một lần trên xe cùng đoàn phim, tôi hóng hớt nghe thấy ông quay phim và cụ Đạt nói chuyện với nhau. Cụ Đạt hỏi: “Theo mày, con Vân còn có thể tiếp nối con đường điện ảnh không?”. Ông quay phim gật gù: “Được, em cho là nó còn đóng được dăm bảy phim nữa”. Sau này ông quay phim còn nhắc mãi về lời tiên đoán của ông cho nghiệp diễn của tôi. Chắc lúc nói thế, ông cũng chỉ muốn làm đẹp lòng cụ Đạt thôi, vì cụ Đạt vẫn tự hào nói: “Con Vân là do tôi phát hiện ra, tôi đưa nó vào điện ảnh”.


Ông Phạm Kỳ Nam hay lãng mạn


Còn chưa hết ngượng với vai diễn đầu tiên của bộ phim đang duyệt nháp, đạo diễn Phạm Kỳ Nam lại đã mời tôi thử vai cho một phim khác, phim Tự thú trước bình minh.


Ấn tượng của ông Nam về tôi: “Trời ơi, trông sao mà quê thế!”. Là dân Tây học ở Pháp về, ông Nam có phong cách hào hoa, chau chuốt cả ngoài đời lẫn trên phim ảnh. Ông chê tôi quê là muốn nói đến cái khía cạnh hấp dẫn quyến rũ của một cô gái. Thế mà rồi ông vẫn mời.


Phá được mặc cảm con gái Hà Nội, cứ vai nào đặc chất Việt là tôi được mời. Vai chính trong Bao giờ cho đến tháng mười là một vai như thế.


Thời gian quay phim trùng với lịch tập vở balê Spartacus do chuyên gia Liên Xô hướng dẫn mà tôi là vai chính, không thể bỏ được. Quay phim xong thường đã quá đêm, 5 giờ sáng hôm sau tôi phải đi đánh thức lái xe dậy đưa về nhà hát vì lo ông ấy ngủ quên.


Tập balê từ 9 giờ - 12 giờ, hết giờ lại lên ôtô đi thẳng ra trường quay. Giờ giấc sít sao thế nhưng tôi không hề ốm, vẫn cứ làm việc băng băng, nhiều khi cả đoàn ngủ gật, tôi vẫn tỉnh như sáo. Ai cũng phải công nhận tôi là người thức giỏi. Có lẽ do tập balê nên sức chịu đựng của tôi dẻo dai hơn người.


Khi làm phim, đạo diễn hoàn toàn tin vào diễn xuất của tôi, để yên cho tôi phát huy hết khả năng của mình. Chính tinh thần cầu thị, tôn trọng khả năng sáng tạo tập thể của đạo diễn đã làm nên những thành công nhất định cho bộ phim. Phim được mang đi nước ngoài nhiều đến mức ông đạo diễn nói đùa: “Phát ngượng”.


Tôi đến nhà riêng của ông Nam ở phố Cao Bá Quát để chụp ảnh thử vai. Sau này con trai ông Nam, bằng tuổi tôi, kể lại: “Gớm, sao hồi ấy bà đến nhà tôi trông bà ngờ nghệch buồn cười thế”. Tôi 21 tuổi, tóc dài, quần lụa đen, nom quê thật. Thế mà lại được vào vai cô tiểu thư miền Nam đài các, một vai không định mà lại thành. Lại phải dấn thân tiếp.

Ba tháng quay ở Nha Trang là ba tháng khắc khoải, lo lắng và mòn mỏi mong ngày về Hà Nội. Lúc đó tôi vừa mới nhận lời yêu, nhưng cứ thấy im ắng vì mất liên lạc, ngỡ mình bị bỏ rơi. Nghe nói chưa được về là òa lên khóc. Trong tiếng khóc ấy còn có cả nỗi hoảng sợ vì bị đạo diễn Phạm Kỳ Nam “mê”. Chỉ thấy lo lắng chứ chẳng thích thú gì. Không hiểu sao ông lại lãng mạn thế!


Ở Pháp về, ông lấy vợ toàn là những người đẹp, diễn viên nổi tiếng. Người vợ đầu của ông từng là hoa khôi Hà Nội. Bà thứ hai là diễn viên nổi tiếng cũng đẹp lộng lẫy không kém. Tôi chả là cái gì, có mà xách dép cho mấy bà ấy không đáng, cho nên làm gì ông đạo diễn lừng lẫy chả tự tin! Hồi ấy đạo diễn điện ảnh là một nghề rất danh giá. Và quan trọng là thời điểm đó ông đạo diễn đang độc thân.


Trong khi quay phim, ông ra sức chiều chuộng tôi. Quay xong, về Hà Nội, ông liên tục đến nhà, đến một cách không bình thường, và nói thẳng với bố mẹ tôi: “Tôi đến xin làm rể đây”. Với tôi, ông tuyên bố: “Tôi trồng cây si đấy!”. Bố mẹ phải biến chuyện ấy thành chuyện đùa. Vì người ta là đàn anh nên chẳng thể phản ứng một cách phũ phàng. Thế đấy, ông Nam cứ hồn nhiên chẳng một chút e ngại thất bại.


Cụ Khoa đi tìm chị Dậu


Cụ Khoa trả lời báo chí rằng cụ đã ấp ủ làm phim Chị Dậu từ lâu nhưng vì không tìm được diễn viên chính nên thôi. Bẵng đi mãi đến mười năm sau cụ lại nhớ đến, vẫn muốn làm và cụ lại đi tìm chị Dậu. Tìm cả trong ngành, ngoài ngành nhưng vẫn không tìm ra một gương mặt thật Việt Nam. “Sao anh không thử con Vân nhà ông Tiến nhỉ?”. Cụ Phạm Văn Khoa gạt phăng đi: “Nó trẻ thế, đẻ ra giữa Hà Nội thì chị Dậu cái gì”. Mọi người bảo: “Anh nhầm rồi, nó Hà Nội 100% nhưng trên phim trông nó rất nông thôn Việt Nam, nó làm được đấy”.


Cuối cùng tôi được mời thử vai chị Dậu. Phải quay thử chứ không chỉ chụp ảnh hay phỏng vấn. Tôi phải diễn thử cảnh chị Dậu đi bán con mà không có con, cũng không có Nghị Quế để tạo cảm xúc, chỉ có máy quay trước mặt.


Hóa trang mặt xong, nhìn trong gương tôi chẳng thấy mình giống chị Dậu tí nào, chẳng thấy “động đậy” một tí chị Dậu nào ở trong người cả, cũng thấy run. Rồi chị phục trang mang ra nào váy đụp váy xòe, áo nâu vá chằng vá chịt, rách như tổ đỉa. Rồi họ bắt đầu độn người mình lên với ba tầng mút, tôi thoắt cái có một bộ ngực đồ sộ xộc xệch ngất ngưởng, cái mông cũng phải độn bằng một quần bồng lồng mút. Cuối cùng, trùm cái váy tổ đỉa ra ngoài, cắp cái thúng, tôi đi bộ từ phòng hóa trang trên con đường đá rẽ trái vào phòng quay thử của xưởng phim…


Chỉ qua một đoạn đường ngắn ngủi đó thôi, tôi đã tự biến mình thành chị Dậu từ trong ra ngoài lúc nào không hay, đến nỗi cụ Khoa bảo tắt máy, tôi vẫn không ngừng lại được. Cứ như là bị một thứ bùa mê gì đó không thoát ra được. Cả đoàn thở phào: “Chị Dậu đây rồi, không phải tìm nữa!”. Lúc đó cũng có ý kiến phản đối: “Sao lại chọn một cô trẻ thế vào vai chị Dậu?”. Cụ Khoa bèn ra sức bảo vệ: “Tôi đưa sách của cụ Ngô Tất Tố cho các ông các bà xem nhé. Đây này, Phạm Thị Đào, sinh năm Ất Dậu, 24 tuổi, đúng bằng tuổi con Vân bây giờ. Đúng như cụ Tố tả”. Thế là chả ai còn thắc mắc gì nữa.


Khi quay thật cảnh bán con bán chó ở làng Đồng Kỵ, tôi đã có rất nhiều kỷ niệm với dân làng. Chiều ảm đạm, chị Dậu một tay dắt con Tí, tay kia dắt chó, đi qua cánh đồng để đến nhà Nghị Quế. Chưa đến cảnh quay, mới chỉ từ nhà dân, chỗ ở của đoàn phim đi sang hiện trường, dân làng đi theo đã ngậm ngùi nước mắt. Họ nói: “Đời chúng tôi đã khổ mà trông cô còn khổ hơn”. Cứ cảnh quay nào có chị Dậu, dân làng lại khóc.


Sau phim Chị Dậu, tôi thật sự rút ra được một bài học lớn về nghề diễn. Có một sự ân hận không thể sửa được vì phim đã xong. Tôi bị cảm xúc thật chi phối đến mức bị “chìm nghỉm” luôn, không biết kiềm chế. Tôi đã đẩy nhân vật đến chỗ dấn quá sâu vào mảng bi lụy. Lúc đó cứ ngỡ người diễn viên càng say sưa hóa thân vào đời nhân vật càng tốt. Cứ chỗ nào thương cảm là rơi nước mắt, thậm chí máy dừng vẫn cứ khóc, không thoát ra được. Dường như tôi khóc thương chị Dậu chứ không phải chị Dậu khóc thương chồng thương con.


Tuy nhiên, vai diễn của tôi vẫn được báo chí ưu ái khen ngợi, chỉ có tôi âm thầm và nghiêm khắc nhận những cái rất dở trong diễn xuất của mình. 


Tự truyện của LÊ VÂN

BÙI MAI HẠNH thể hiện

Donnerstag, 5. Oktober 2006

Chân dung người Việt - nhìn từ một góc độ




(Theo TienphongOnline)



Tôi xin liệt kê những quan sát của tôi trong nhiều năm về phong cách, hành vi, tập tính của nhiều người tôi gặp gỡ trong những hoàn cảnh sống và làm việc khác nhau.






Mỗi người trong họ hiển nhiên là có nhiều điều tốt đẹp trong nhân cách, khả năng làm việc có thể sánh ngang chuyên gia. Nhưng họ cũng bộc lộ ít nhiều những điều dưới đây khiến không khó khăn lắm vẫn có thể nhận ra.


Và khi tôi cho họ xem những nhận xét của mình thì họ cả cười mà rằng: Hình như cũng có ở đâu đó, hàm lượng nào đó. Mỗi nhận xét âm tính như dưới đây xin bạn đọc quảng đại với tôi, và xin một lần tự soi lại mình.


Nếu bạn không thấy có mình, hay không thấy tính phổ biến trong cộng đồng của mình thì rõ ràng đó là sự tốt đẹp để có thể nhân nó lên mà ngẩng cao đầu đi vào kỉ nguyên hội nhập.


1. Nguồn gốc: tiểu nông – mục tiêu cuộc đời : tiểu chủ – hành vi: tiểu xảo – làm ăn : tiểu thương – suy nghĩ : tiểu trí.


2. Tình cảm không dào dạt hơn cái ao làng– nhìn quá ngọn tre là chóng mặt– chỉ uống nước giếng khơi mới không đau bụng – Một ngày không ăn mắm tôm không chịu được – Phát minh là cải tiến xe công nông- Ý nghĩa cuộc đời là ăn miếng dồi chó-  Mong ước lớn nhất là hơn người – Sợ nhất là chết không toàn thây.


3. Nếp sinh hoạt của những người như họ?  Một người thì trùm chăn ngủ– nếu hai người thì tổ chức nấu nướng–  ba người thì nói xấu người khác– bốn người trở lên thì chia bè kéo cánh.


4. Hễ chỉ có một thì có khi không rơi xuống hố, hai người thì đào hố bẫy người, có ba người đi với nhau thì có thể hơn một người sẽ rơi xuống hố do chính họ đào.


5. Ham học nhưng để làm quan chứ không nhằm cải tạo cuộc sống.


6. Con chấy cắn đôi khi nghèo khổ, nhưng chỉ mong con lợn nhà hàng xóm lăn ra chết.


7. Đánh nhau kiểu hội đồng từ sau lưng mà không dám đối mặt trên đấu trường.


8. Trong diễn đàn thì ngậm miệng, nhưng bàn nát chuyện ngoài quán nước.


9. Bao nhiêu tinh lực dành cho sự lẩn lách để tồn tại– bởi vậy ưa những hình thức phi chính thống làm ăn.


10.Đi đến đâu cũng lập chợ quê mà không thể tính chuyện làm ăn lớn.


11.Hay nói tình nghĩa nhưng dễ đánh nhau vỡ đầu vì món lợi nhỏ.


12.Nói năng cởi gan cởi ruột nhưng phong cách sống rất  khép kín.


13.Cười hinh hích để tự thưởng cho ý nghĩ của mình hơn là cười tươi với cái hay của người khác– Sướt mướt với cái thua thiệt của mình để hằn học với niềm vui của người khác.


14.Coi cái gì cũng là nhỏ mà bỏ qua trong khi không định nghĩa được cái lớn là gì. Việc lớn thì kinh, việc nhỏ thì khinh, việc bình thường thì không thích.


15.Có nhiều sáng kiến nhỏ nhưng không có khả năng biến những cái đó  thành hàng hóa cạnh tranh.


16.Vừa sùng ngoại vừa bài ngoại.


17.Có khuynh hướng bới thù trong bạn hơn là tìm bạn trong thù.


18.Rất khó dung nạp và đồng thuận với sự khác biệt.


19.Rất “tinh tướng” vì không biết mình biết người.


20.Luôn nghi ngờ, không phải để nhận thức lại thế giới mà chẳng thực tin vào cái gì. 


Nguyễn Tất Thịnh

Nhà 18T2 Trung Hòa, Nhân Chính, Hà Nội

Dienstag, 3. Oktober 2006

Mưa rơi bao lâu?

Hôm nay có nhiều dự định phải ra khỏi nhà. Nhưng khi chuẩn bị đi thì trời lại mưa. Mà bây giờ già rồi, chỉ thích ngắm mưa chứ không thích đi trong mưa nữa. Còn nhớ hồi trẻ con chỉ mong mưa rào mùa hè để tắm mưa. Mỗi lần mưa rào là thích thú vô cùng, nhà mình hồi đó có hàng hiên rộng, bao nhiêu loại chậu xô được huy động toàn bộ để hứng nước mưa. Dùng nước mưa tiện lợi, vì không phải đi một quãng mới tới cái giếng sâu, cho dù nước mưa bao giờ cũng có cặn của bụi trên mái ngói theo nước mưa tràn xuống. Với lại khi mưa thì nước giếng bị đục, dù giếng nhà mình nước ngon nổi tiếng. Hình ảnh khó quên gắn với mưa mùa hè là bố và các anh chị đội mưa từ quê về, mang theo bao nhiêu là cua biển. Cua biển được cho vào bẹ chuối, con nào con nấy vàng ươm nhìn thích lắm.


Hôm qua là ngày lễ, nhưng ngồi cả ngày ở nhà chuẩn bị cho việc gửi "bom" đi hàng loạt vào ngày hôm nay. Chỉnh sửa tới lui cũng xong lá thư mời, ngoài ra còn phải làm thêm nhiều press kit nữa. Cũng may là phim thì đã làm trước rồi, địa chỉ nơi gửi đến cũng đã tìm ra từ mấy hôm trước. Ngoài ra có tin vui là mình gửi thư đi giới thiệu phim cuối cùng đã được chọn vào tranh giải ở Foyle, một ngoại lệ vì thời hạn đã hết. Thế là phim đã đi gần hết các nước Châu âu rồi, vùng miền trên thế giới hầu như đã đi khắp, còn gì vui hơn?


Mưa bây giờ đã ngớt. Chỉ đợi hửng sáng lên một chút là mình sẽ ra khỏi nhà. Trời ươm nắng ở đâu? Mấy hôm nay trời tối quá, giữa ban ngày mà như trong đêm trăng sáng.

Celebrity thing

Ai giong toi?



Image


"Brokeback Mountain" made in Vietnam




Nghe nói trước đây anh tự do, lãng tử bao nhiêu thì bây giờ bà xã “xích” anh chặt bấy nhiêu?

(Hạnh Đỗ – Hà Nội)


Tôi đi đâu, vợ tôi chỉ hỏi: Anh đang làm gì? Anh ăn cơm chưa?


Bởi cô ấy luôn tin tưởng tôi. Trước đây tôi hay đi qua đêm, tôi thích đi câu, nhưng không thích ở gần, mà là đi câu xa, ra tận Gò Vấp, Bình Châu. Đó vừa là niềm vui, vừa là sự thư giãn của tôi.Nếu một người vợ không tin chồng, sẽ chẳng bao giờ để chồng đi như thế.


Bản tính con người tôi cũng không để vợ giữ chân ở nhà, nên mình phải làm cách nào để cô ấy hiểu. Muốn làm được điều đó phải có thời gian và phải chứng minh được trong mắt vợ mình là người như thế nào.


Nếu thẳng thắn thì có khi nào anh vác cần ra khỏi nhà, nhưng lại không câu… cá?

(Hạnh Đỗ – Hà Nội)


Cuộc đời tôi đã trải qua nhiều sóng gió, cũng có những lúc hạnh phúc bị tổn thương. Nên tôi hiểu thế nào là giá trị của một gia đình thật sự. Khi đã hiểu được nó, chắc chắn tôi sẽ không quan tâm đến những “con cá” bên ngoài!


(Interview with Lê Tuâ´n Anh, the veteran of the so-called Mì A(n Liê`n periode of Vietnamese Cinema. Source: Tienphongonline)

Sonntag, 1. Oktober 2006

Hạnh phúc

Có người nói chỉ cần khoẻ mạnh là có hạnh phúc. Nhưng đôi khi người ta phải đợi đến lúc đau ốm mới nhận thấy được hạnh phúc là có người thân quan tâm, chia sẻ.


Hạnh phúc thường làm tôi rơm rớm nước mắt. Và vì thế cái cảm giác "hạnh phúc" thường đến với tôi đơn giản mà vô cùng bất chợt.


- Là khi ngắm một bình hoa trong chiều dần tắt nắng. Bỗng xúc động lạ kỳ bởi sự kết thúc một ngày tan dần trong sức sống của hoa.


- Là khi ngắm chiều tàn trong dãy nhà đối diện. Chợt thấy một cuộn khói nao lòng in hình trong một khung cửa sổ.


- Là khi thảng thốt thấy đám cây trước nhà lá đã bắt đầu rủ vàng.


- Là khi ôm hoa loa kèn đi trong gió bên người yêu.


- Là khi đi trên tàu, nhìn ra ngoài cửa sổ mênh mang những đồi hoa vàng trong một chiều đầu hè.


- Là khi nghe mưa rơi lộp độp trên những lá cây dây leo ăn bám ngoài tường nhà.


- Là khi nhìn thấy bất kỳ hình ảnh nào gợi nhớ đến một đêm thu Hà Nội hay chiều đông Paris.


- Là khi ngấm trong Bach trong vòng tay người yêu.


- Là khi miên man nghĩ về những cánh đồng xanh mướt ngút tầm mắt ở quê xưa.


- Là khi mơ về khu vườn rộng thế giới của tuổi thơ với bao nhiêu khám phá thiên nhiên.


- Là khi chợt nhớ về một trò chơi nào đó thời thơ ấu. ô ăn quan. Nhảy ngựa. đồ hàng. Chuyền. đồ. Nịt. Bịt mắt bắt dê. Trốn tìm. Múa. Hát. đóng kịch. Bi. Quay. Súng phốc. Bắt bọ ngựa. Bắt chuồn chuồn cho cắn rốn để biết bơi. 


Có còn đứa trẻ nào chơi những trò chơi đó không? Có còn ai mơ về quá khứ hàng đêm như tôi không? Và bắt gặp trong đó một nụ cười chớm nước mắt của hạnh phúc?