Freitag, 29. Dezember 2006

Điểm tình hình phim ảnh của bản thân 2006




Năm 2006 lần đầu tiên được sở hữu một cái máy quay phim khá xịn. Cả năm quay không nhiều, chắc được chừng 100 phút là cùng, mà chưa làm cái clip nào cả. Tất cả vì lười. Điều đó nói lên rằng tình yêu với điện ảnh của mình dường như nên được chứng minh ở một góc độ khác, chứ mình sẽ không trở thành người làm phim được. Thôi thì hãy bằng lòng với tư cách người xem phim (tự nhận là) có gu vậy.

Năm 2006 mở màn bằng việc mua 1 loạt đĩa phim DVD ở Hà Nội và Sài Gòn mà cho đến bây giờ vẫn chưa xem hết. Trong số đó tuyệt vời nhất là bộ 18 phim hoạt hình của Studio Ghibli. Xem Grave of the Fireflies khóc từa lưa, ngoài ra các phim khác phim nào cũng thú vị. Bộ phim xem rạp đầu tiên là 2 trong 1 ở cái rạp Ngọc Khánh mới được sửa lại vào đêm mùng 1 Tết. Phim này đúng kiểu phim chiếu Tết, xem giải trí vèo 1 cái quên luôn.

Berlinale 2006 xem được một vài phim. Ấn tượng nhất là A Soap, phim sau đó đoạt giải Gấu Bạc và giải Phim đầu tay hay nhất. Phim giành Gấu Vàng Esma's Secret đến cuối hè mới được xem. Một bộ phim tuyệt vời, xem phim này mà mình mường tượng được Balkan trong quá khứ và hiện tại, một khu vực phải thú thực là mình có rất ít hiểu biết. Coming out of age của phim này thú vị, chứ không hời hợt như trong Mùa len trâu. Thất vọng nhất là phim Invisible Waves, phim này lại còn được Thái Lan gửi đi dự Oscar mới ghê. Cái phim đoạt giải Teddy The Blossoming of Maximo Oliveros mãi tháng 12 vừa rồi mới có dịp xem. Phim như phim mì ăn liền ngày xưa, nhưng xem giải trí cũng vui. Cái Sehnsucht được báo chí khen ơi là khen vừa rồi mới được xem, thấy cũng bình thường. Xem mà thấy xót xa cho chính những diễn viên không chuyên của phim trong một mùa đông ảm đạm miền Đông Đức. Có lẽ phim đặc biệt ở chỗ ấy, các diễn viên như bị "phanh phui" thân phận của chính mình trên màn bạc. Năm 2006 chẳng có phim Việt Nam nào được chiếu ở Berlin. Cứ hy vọng Sống trong sợ hãi nhưng rồi cũng chẳng thấy đâu. À mà vừa rồi thấy Bùi Thạc Chuyên khoe là phim đi Rotterdam tháng 1 tới. Thấy viết là tranh giải nhưng phim này vừa chiếu ở Rome rồi thì làm sao tranh giải được (điều kiện ít nhất phải là European Premiere)?

Brokeback Mountain là bộ phim được chờ đợi nhất của đầu năm 2006. Và quả thật, phim xúc động và hay khiến mình phải đi xem lại một lần nữa khi phim chính thức ra rạp. Năm nay chỉ có vài phim mà mình xem 2 lần, mà Brokeback Mountain là một trong số đó.

Giữa năm xem được The Lives of Others, một phim Đức về thời DDR thực sự hay. Ghi chú thêm là phim này vừa thắng lớn tại giải thưởng phim Châu Âu với giải Phim hay nhất. Nó đi ngược lại tất cả những bộ phim tô hồng quá khứ trước đó như Goodbye Lenin hay Sonnenallee.

Gần cuối năm xem được vài phim hay đến rất hay: Volver (dù đây không phải là phim hay nhất của Almodovar), Marie Antoinette (nhiều cảnh giống y như Virgin Suicides), King and the Clown (thỏa lòng mong ước, tuy nhiên xem lần thứ 2 cảm xúc không còn nguyên vẹn như lần đầu), The Banquet (bất ngờ, vì cứ tưởng phim này blockbuster thì sẽ bình thường thôi), The Departed (một remake có đời sống riêng, tuy nhiên cái kết hơi bị thất vọng), Borat (phim tưởng như hời hợt nhưng lại rất sâu cay) và dĩ nhiên Children of Men (theo mình là phim của năm 2006, chắc là do bệnh nghề nghiệp).

Bộ phim giả nghệ thuật ghê rợn nhất bị xem phải là Broken Sky. Kế đó là Brown Bunny.

Nhiều phim dự định chuẩn bị xem: Little Miss Sunshine, Babel, Light in the Dusk, The QueenShortbus.

Nhiều phim Việt Nam muốn xem mà mãi chẳng có cơ hội để xem: 1735km (bạn phanxine đã cho người khác DVD rồi mà không thấy gửi cho mình), Áo lụa Hà Đông (phim này còn chẳng có website, trailer tìm mãi chả thấy), Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt (phim này được bạn phanxine bầu là phim Việt Nam hay nhất năm rồi mà chẳng thấy có DVD) và Chuyện của Pao (thấy hình ảnh cũng đẹp, lại được Hải-Yến PR quá cỡ làm mình cũng phải tò mò).

Vậy là năm 2006 sắp qua. Hy vọng năm tới mình sẽ được xem nhiều phim hay và có giá trị.

Dienstag, 12. Dezember 2006

Vienna (part I): Vienna by night




Phần đầu tiên có lẽ là ấn tượng về thành phố khi nắng đã tắt.

Đến Vienna vào dịp trước lễ Giáng Sinh. Nơi nơi đèn sáng ấm áp. Đường phố nhà cửa trang hoàng rực rỡ. Chắc có người thắc mắc là tấm hình loan báo chuyến viếng thăm Vienna của tôi được chụp ở đâu. Trên hình là tòa nhà thị chính của thành phố, cũng trong một buổi tối tháng 12 năm nào đó và được chụp bởi một người không quen. Đây là mặt tiền của tòa nhà này, do tôi chụp:


Từ một góc nhìn xa hơn:


Trên quảng trường trước tòa thị chính là một chợ Giáng Sinh. Các cây cối được treo đèn lồng rực rỡ. Khung cảnh của cổ tích:


Khu Am Graben là khu mua bán nổi tiếng nhất của thành phố với các cửa hiệu của các hãng thời trang hàng đầu thế giới:


Giữa thành phố đông đúc, không phải là không có những góc và ngõ phố cổ như thế này:


Và giữa những màu đỏ và vàng đặc trưng của đèn những ngày giáng sinh, tự nhiên thấy bồi hồi khi bắt gặp một màu xanh hiền hòa:


Đêm đang nằm, chợt bật dậy bởi nhớ ra chưa chụp ảnh Vienna đêm từ trên cao. Và đây, nhìn từ căn phòng tôi ngủ:


Mảnh trăng cuối tháng xứng đáng được hưởng một cái close-up:


Đêm cuối cùng không ngủ được. Có thể gọi là nuit blanche cũng được. Còn đây là nuit noire à Vienne.

Mittwoch, 6. Dezember 2006

Vienna calling




Ngày mai đi Vienna.

Lần đầu tiên đi Vienna. 

Thành phố của nhạc cổ điển.

Thành phố của văn hóa.

Thành phố xa nhất phía Đông mình từng đến.

Hồi hộp.

Mong nhìn thấy dòng Donau.

Mong  được ngồi trong Staatsoper.

Và mong gặp lại bạn.

Không biết bạn có thay đổi gì không.

Không biết bạn đã dám sống cuộc sống của bạn chưa.

Nơi đây trời vẫn rả rích mưa.

Mùa đông sắp đến.


Montag, 4. Dezember 2006

Northern Vietnam, 25 years ago

Theo tường trình của học sinh, trong 3 ngày 17-19/11, một đoàn giáo viên của Trường THPT Sơn Hà (Quảng Ngãi) tay cầm kéo lần lượt vào từng lớp. Với lý do vi phạm "nội quy" của trường về tóc, 200 học sinh đã bị xén tóc nham nhở. Có em đến thợ cắt tóc sau đó muốn chỉnh sửa cũng không được, đành cạo trọc.


Bà Nguyễn Thị Xuân Hương, Hiệu trưởng Trường THPT Sơn Hà khẳng định, việc Ban giám hiệu thành lập đoàn giáo viên cầm kéo vào từng lớp xén tóc học sinh là đúng nội quy nhà trường.


Theo nội quy này, học sinh vào lớp mặc quần ống loe sẽ bị hớt, đi dép quai chéo (như dép Lào) sẽ bị thu hoặc cắt quai. Còn nam sinh để tóc chấm tai, mái quá hàng lông mày, mai quá 1/3 tai là xén.


Bà Hương nhấn mạnh: "Việc làm của chúng tôi không có gì là phi giáo dục cả, chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện".


(Theo Người Lao Động, Thanh Niên)

Freitag, 1. Dezember 2006

“Sài Gòn thành phố mở”




Hình: Momentum, Instalation 2003 (Website Saigon Open City)



“Sài Gòn thành phố mở”… té ra là đóng!

Bài của Nguyễn Quân
 
Đọc dự án và xem giấy mời khai mạc cùng chương trình ba ngày của “Sài Gòn thành phố mở” do Công ty SOC (Saigon Open City) tổ chức, tôi phải nhận là ý tưởng rất hay, nội dung phong phú và quy mô hoành tráng; lại là một hình thức tổ chức tư nhân hoá hoàn toàn một sự kiện mỹ thuật quốc tế ở Việt Nam. Vào WTO rồi thì thế mới là bình thường! Công ty SOC được thành lập từ mấy năm nay để lo việc này. Trước đây phương án làm Saigon Biennale cực lớn đã tiêu tốn một mớ tiền sau phải bỏ, dự án được đổi sang SOC = Sài Gòn thành phố mở. Hai curator đầy kinh nghiệm từ Thái Lan xếp thành 3 chương Giải phóng - Thống nhất - Tái thiết . Lần này là Giải phóng. Từ nước ngoài sẽ có sự tham gia của các tên tuổi lừng danh như Yoko Ono (Anh-Mỹ), Joseph Bueys (Đức), Nam Jun Paik (Hàn Quốc)… và mười mấy nghệ sĩ đương đại từ mười mấy nước. Từ Việt Nam sẽ có đủ ba thế hệ từ Quách Phong, Huy Toàn, qua Đỗ Thị Ninh, Đào Minh Tri, Trần Lương, Trương Tân tới Ly Hoàng Ly, Lê Vũ… Tài trợ là Quỹ Ford, Quỹ Trung tâm Mỹ và nhiều cơ quan khác. Các sự kiện diễn ra đồng loạt tại bốn bảo tàng và trụ sở của SOC. Nghe quá đã! Và một vài báo đài ta tây vội vã đưa tin về sự kiện mỹ thuật đương đại lớn nhất Việt Nam này. Còn thêm một số khách VIP được mời vào Sài Gòn để chứng kiến nữa!



Sự thật thì 4 ngày qua Giải phóng diễn ra như thế nào?



Ngày 25/11 cuộc họp báo bị huỷ bỏ. Cuộc nói chuyện của David Ross, một curator nổi tiếng về Yoko Ono, phải chuyển thành nói chuyện nội bộ ở trụ sở Hội Mỹ thuật thành phố. Ông Quý Đức, một nhà báo Mỹ làm việc ở Hà Nội nói: Ông Ross giới thiệu quá ít về Yoko; một thính giả khác nói: Ông ta sang Việt Nam lần đầu nên nói như một nhà ngoại giao.



Ngày 26/11 tất nhiên không có việc mở cửa cả bốn bảo tàng cho công chúng xem, không có đạo diễn nghệ thuật hướng dẫn xem và minibus đưa đón, cũng không có lễ khai mạc với âm nhạc trình diễn, trình diễn của Y. Ono như trong giấy mời vì chưa dàn dựng xong và không có giấy phép, vả lại Yoko Ono (vợ goá của John Lennon) không tới Việt Nam! Ở trụ sở SOC, một quả bom bằng các chai gội đầu sunsilk (của một tác giả Indonesia) đang được đan buộc ngoài hành lang, các phòng còn đang dang dở cả. Phòng giới thiệu lịch sử Việt Nam có minh họa bằng photocopy một số tác phẩm mỹ thuật Việt Nam viết tiếng Anh chưa dịch sang tiếng Việt! Các tác giả và ban tổ chức chen chúc trong các phòng sơn vẽ sơ sài của SOC thuê trên lầu 1 của một toà nhà cũ đối diện một phòng tập võ, một quán bán riêu cá và hai sân quần vợt! Ba tác phẩm trình diễn cũng dồn về đây. Lê Ngọc Thanh từ Huế nói: Họ mời tụi em diễn ở Bảo tàng Mỹ thuật, tụi em mừng quá, giờ lại làm ở chỗ chật chội thế này. Không có giấy phép mà cũng không nói với em, cứ bảo anh em diễn, nhỡ người ta bắt tụi em thì sao!



Hai ngày 27 và 28/11 có hai buổi thuyết trình và gặp gỡ ba thế hệ nghệ sĩ cũng dồn vào một phòng nóng nực với sự có mặt của các tác giả ban tổ chức và vài khách VIP. Hai vị lão thành đại diện thế hệ thứ nhất ốm không dự được!



Cả bốn ngày với các sự kiện trên đều đóng kín mít trong phạm vi ban tổ chức, đạo diễn nghệ thuật và một số tác giả, không có một công chúng nào tham gia, giới mỹ thuật TP HCM hầu như không được biết, được mời, công chúng thành phố lại càng không tuyệt đối! Một dự án thành phố mở, “dọa” làm sôi động thành phố bằng nghệ thuật, hoá ra chỉ là một hoạt động studio workshop im lìm tẻ nhạt.



Phải nói rõ rằng tới ngày 28/11, trong khi chờ giấy phép thì tại Bảo tàng Mỹ thuật thành phố các video đang được lắp đặt, một vài tranh và ảnh nước ngoài đang được treo, phần tranh Việt Nam đã ở trên tường, gồm vài tranh mang từ Hà Nội vào, còn lại phần lớn là tranh về đề tài chiến tranh có sẵn trong bảo tàng nay sắp xếp lại! Tại Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh đang làm tường giả để chuẩn bị dàn dựng! Tại Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ có bộ mâm nhôm xếp thành hình nón của Ly Hoàng Ly và cái váy cưới nửa bằng xích kim loại của Trương Tân và một video của Nguyễn Quang Huy!



Phía tổ chức có ý thanh minh (và đổ lỗi) sự chậm trễ, trục trặc này là do thành phố chần chừ cấp giấy phép, “chưa cởi mở với nghệ thuật đương đại”, nhưng giả sử đã có giấy phép, triển lãm cũng chưa thể diễn ra vì vẫn chưa dàn dựng xong. Và xét về nội dung thì như nhà báo Hoàng Hưng phát biểu: “Không có các tác phẩm mới, toàn là những cái đã làm ở nhiều nơi nay làm lại hay chiếu lại”. Khi được hỏi về chủ đề Giải phóng của triển lãm thì curator chống chế rằng: Giải phóng có nghĩa rộng, chung, làm nghệ thuật cũng là giải phóng! (Thế hai chương Thống nhất - Tái thiết sắp tới thì sao?) Không có installation và performance nước ngoài, trong nước thì gồm toàn những tác phẩm quen thuộc làm lại. Ban tổ chức lại chống chế là: Giới thiệu các tác phẩm cũ “trong ngữ cảnh mới” để công chúng dần làm quen với các môn mới. Tiếc rằng không có công chúng trong bốn ngày qua, nhưng cũng may chứ nếu không họ cũng sẽ khó mà thích thú với toàn những tranh và các thứ họ đã biết cùng một số video nước ngoài. Không lẽ họ đến Bảo tàng Mỹ thuật thành phố để xem lại các tranh vốn vẫn ở đó được xếp theo “ngữ cảnh mới”?



Có điều đáng nói nữa là trước đó, ngày 24/11, tại trụ sở Hội Mỹ thuật thành phố đã khai mạc đàng hoàng vui vẻ một triển lãm vệ tinh của SOC do Trần Lương làm curator với 9 tác phẩm sắp đặt và trình diễn của 9 sinh viên Hà Nội - Huế - Sài Gòn khá mới mẻ và thú vị. Việc nhỏ thì làm gọn nhưng việc lớn thì hình như quá sức tổ chức của SOC!



Dù hiện nay SOC vẫn phấp phỏng chờ giấy phép để mở cửa trưng bày tại mấy bảo tàng, thì phải nhận rằng đây là một bài học thất bại của việc tổ chức sự kiện mỹ thuật đương đại quốc tế cỡ lớn, từ nội dung tới quy trình hành chính và công việc dàn dựng. Có thể do sự thiếu am hiểu sâu sắc của các curator về “ngữ cảnh” mỹ thuật đương đại ở Việt Nam, về lịch sử mỹ thuật Việt Nam, về cộng đồng mỹ thuật ở TP HCM. Có thể do SOC chưa tìm được những đối tác tốt giúp họ thực hiện trót lọt dự án, chưa có được sự ủng hộ của cộng đồng nghệ sĩ thành phố v.v. và v.v… Thực ra trước SOC đã có nhiều sự kiện mỹ thuật quốc tế được tổ chức thành công từ các trại điêu khắc quốc tế, liên hoan nghệ thuật đường phố ở Festival Huế hay các hoạt động ở Viện Goethe, Hội đồng Anh, L’Espace ở Hà Nội.



Hy vọng SOC rút ra được những kinh nghiệm để chữa chạy phần sau của Giải phóng và tổ chức tốt các chương Thống nhất - Tái thiết tiếp theo. Để công chúng Thành phố mở này không bị “bé cái nhầm” như lần này.



© 2006 talawas



****************************



Nhà tổ chức “Sài Gòn thành phố mở” thực sự yếu kém về tổ chức
Phỏng vấn Trịnh Cung do Thuận Thiên thực hiện
 
Thuận Thiên: Ông nghĩ gì về chủ đề “Giải phóng, Thống nhất và Tái thiết” mà những người chủ trương dự án "Sài Gòn thành phố mở” (SOC) đặt cho cuộc triển lãm quốc tế nghệ thuật đương đại tại thành phố Hồ Chí Minh vừa được khai mạc (không chính thức) vào ngày 26-11-2006?



Trịnh Cung: Theo tôi được biết khi còn là cố vấn cho dự án “Saigon Biennales” (tiền thân của “Sài Gòn thành phố mở”), chủ đề này do hai curator người Thái là Kirkrit và Gridthiya đưa ra cho Đỗ Tuyết Mai, nhà sáng lập dự án “SOC”. Khi đó, tôi có đưa ra ‎ý kiến với Đỗ Tuyết Mai là chủ đề này quá nặng về chính trị và e rằng không còn phù hợp cho một không khí lễ hội sáng tạo nghệ thuật đương đại. Tuy nhiên, trước đó, dự án “Saigon Biennales” đầy tham vọng của Đỗ Tuyết Mai gặp phải sự tẩy chay quyết liệt của giới quản l‎ý mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh nên việc có một giấy phép thực hiện dự án này là không thể được. Và có lẽ để dễ được chấp nhận hơn, “Saigon Biennales” đã được đổi thành “Sài Gòn thành phố mở” và một chủ đề không lấy gì làm “mở” như thế đã được họ chủ trương. Chủ đề này có khi chỉ là cách tiện nhất để có một giấy thông hành cho một loại hình nghệ thuật đang còn nằm ngoài sự thừa nhận chính thức của hệ thống mỹ thuật Việt Nam. Hoạ sĩ Trần Lương, một trong các giám đốc nghệ thuật của sự kiện, có giải thích rằng cần hiểu chữ “Giải phóng” theo một ‎ý nghĩa rộng, như là người nghệ sĩ tự giải phóng tư duy sáng tạo của chính mình, nhưng tôi thấy cách giải thích ấy khó thuyết phục vì chữ “Giải phóng” ở đây không đứng riêng, mà theo sau nó còn có “Thống nhất” và “Tái thiết”.



Thuận Thiên: Việc hai curator người Thái chủ trì sự kiện mỹ thuật này của Việt Nam có gì tốt và có gì hạn chế?



Trịnh Cung: Không thể chối cãi rằng người Thái có mỹ thuật đương đại trước Việt Nam khoảng một thập niên nên họ có nhiều kinh nghiệm về mặt quản l‎‎ý và dàn dựng một sự kiện triển lãm nghệ thuật đương đại. Hơn nữa, có thể là với uy tín nghề nghiệp của mình, Kirkrit và Gridthiya có khả năng giúp Đỗ Tuyết Mai mời được những nghệ sĩ quốc tế đến Việt Nam và dễ nhận được tiền tài trợ từ các quỹ văn hoá như Quỹ Ford chẳng hạn. Tuy nhiên, về những mặt còn lại, có khi còn quan trọng hơn, trong việc tổ chức một sự kiện mỹ thuật lớn ở nước ta, làm sao họ thấu đáo hơn ta? Chẳng hạn những giới hạn và thực tế về môi trường mỹ thuật Việt Nam ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án; về vai trò của Hội Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Đây luôn luôn là chủ thể của các hoạt đông mỹ thuật mang tính toàn thể của mỹ thuật thành phố, là một thế lực không chỉ là chính trị mà còn cả về nghề nghiệp, không một cá nhân nào được phép vượt qua để làm một sự kiện như loại “Sài Gòn thành phố mở”. Còn tâm thức của lớp nghệ sĩ đương đại Việt Nam đang ôm ấp những gì? Các vấn đề mà họ quan tâm? Làm mới hơn, tự do hơn cho ngôn ngữ mỹ thuật Việt Nam, làm sao sớm thoát ra khỏi những trì trệ của một cơ chế văn hoá cũ kỹ tồn tại quá lâu để mọi tư duy và cảm hứng nghệ thuật được tự do bày tỏ là những gì họ đang tranh đấu ở đây. Cho nên khi đưa ra một chủ đề vừa đóng khung, vừa một chiều như vậy, sân chơi này dù có được cấp phép cũng sẽ rất buồn tẻ, đừng nói chi đến việc không được phép như thực tế đang xảy ra.



Thuận Thiên: Trong thành phần hoạ sĩ tham dự, có thể thấy ngay sự thiếu vắng những hoạ sĩ Sài Gòn trước 75. Trong buổi hội thảo tại Studio SOC, curator Kirkrit cho biết những hoạ sĩ trong nhóm này được mời tham dự nhưng họ đã từ chối. Ông bình luận gì về tuyên bố này?



Trịnh Cung: Tôi không tin là họ chính thức được mời trực tiếp từ Kirkrit, cách trả lời này là không thành thật, vì bản thân tôi cũng là một trong trong số đó nhưng không hề nhận được một tín hiệu nào. Mặt khác, nếu nhận được lời mời thì không phải tất cả đều từ chối vì những hoạ sĩ Sài Gòn không phải là một tổ chức, họ là những cá nhân có những suy nghĩ và chọn lựa riêng của mình.



Thuận Thiên: Được biết buổi họp báo ngày 25/11 và lễ khai mạc chính thức vào ngày 26/11 đã không xảy ra như trong thông cáo báo chí. Đến ngày 25/11, trong khi các nghệ sĩ từ Hà Nội và nước ngoài đã có mặt, thì chương trình được thông báo (không nhiều người biết) là chiều 26/11 chỉ có vài tiết mục performance và tiệc đứng đơn giản ở Studio SOC. Số người biết thông tin để đến dự buổi giới thiệu tác phẩm của Yoko Ono (do trợ ‎lý của bà là David Ross phụ trách) và hai buổi toạ đàm của các curator và các nghệ sĩ rất hạn hẹp.



Trịnh Cung: Tôi đã đích thân tìm đến một trong những địa điểm triển lãm là nhà Bảo tàng Phụ nữ TP HCM đúng vào ngày khai mạc “Sài Gòn thành phố mở” theo thông cáo báo chí trước đó, nhưng ở đây không khí thật im lặng, ngoại trừ một tiệc đám cưới với ca nhạc đang tưng bừng ngay bên cạnh. Thì ra “SOC” vẫn chưa có được giấy phép hoạt động để bắt đầu khai mạc cho sự kiện nghệ thuật này. Trong một cuộc trao đổi ngắn qua điện thoại với hoạ sĩ Trần Lương, một trong những giám đốc nghệ thuật của sự kiện mỹ thuật này, tôi được biết cho đến ngày dự kiến khai mạc 26-11-2006, ban tổ chức cũng còn tiếp tục công việc xin giấy phép. Nhưng theo anh, những người tổ chức không vì khó khăn mà nản chí, cứ tranh thủ được đến đâu làm đến đó.



Thuận Thiên: Một số người chịu khó tìm đến ba chỗ bày tác phẩm (Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, Studio SOC) để xem thì thấy hình như có một điều gì đó không nhất quán trong nội dung triển lãm của nhà tổ chức?



Trịnh Cung: Theo thông cáo báo chí của Ban tổ chức, phần đầu cho biết: “Giải Phóng nhìn lại thời kỳ chiến tranh chống Mỹ qua con mắt của những nghệ sĩ lão thành, của thế hệ nghệ sĩ quân đội tham gia trực tiếp vào cuộc chiến cũng như qua cách tiếp cận của các nghệ sĩ thế hệ trẻ... Đây là cuộc gặp gỡ và đối thoại hiếm hoi giữa 3 thế hệ nghệ sĩ tạo hình Việt Nam với các trải nghiệm xã hội và kinh nghiệm, quan điểm nghệ thuật khác nhau”, nhưng phần tiếp theo lại chủ trương: “Cuộc triển lãm nhấn mạnh khía cạnh đời thường, những ghi chép giản dị của các nghệ sĩ về cuôc sống thường nhật…”.



Rất dễ nhận ra những tiêu chí trong văn bản này là lòng vòng, khập khiễng, mang tính tranh thủ với nhà đương quyền là chính. Trên thực tế, như câu hỏi đã nêu, qui mô tầm cỡ sự kiện và chủ đề to tát của cuộc triển lãm đã biến thành đầu voi đuôi chuột. Không giấy phép nên sự kiện mỹ thuật đương đại quốc tế này đã diễn ra không kèn không trống; thiếu vắng nhiều nghệ sĩ trong nước và quốc tế được nêu tên trong thông cáo báo chí, nhất là không có Yoko Ono - cái đinh của sự rạo rực chờ đợi của giới mỹ thuật Việt Nam; chỉ có những trình diễn bỏ túi trong chật chội, nóng bức; những tác phẩm sắp đặt đã cũ, ít ỏi, được tập trung tại trụ sở “SOC” 3A Tôn Đức Thắng, Quận 1, gần như không có công chúng trừ một số ít ỏi người trong giới và nhà báo, tất cả những điều đó đã cho thấy nhà tổ chức “Sài Gòn thành phố mở” thật sự yếu kém về tổ chức nếu không muốn nói là đã phạm một sai lầm không thể chấp nhận được: Lợi dụng tên tuổi và lòng đam mê của các nghệ sĩ!



Thuận Thiên: Như vậy người yêu mỹ thuật hoặc tò mò về cuộc triển lãm mỹ thuật đương đại có tầm vóc qui mô nhất nước sẽ nhận được gì từ một tập hợp tác phẩm như thế?



Trịnh Cung: Tất nhiên là không có gì, ngoài một bữa buffet quốc tế chỉ gồm vài món thức ăn cũ được dọn lôi thôi bởi hai đầu bếp Thái.



Thuận Thiên: Theo ông, tương lai của nghệ thuật đương đại Việt Nam sau sự kiện này sẽ khá hơn?



Trịnh Cung: Như chúng ta đều biết, ở Việt Nam, với ngôn ngữ chính là vật chất, mỹ thuật có lợi thế hơn văn học. Tuy nhiên, khi mỹ thuật của thế hệ trẻ hôm nay đang bước qua giới hạn của vật chất để đưa ra một thái độ xã hội như trong các hình thức trình diễn, sắp đặt,… thì con đường phát triển của nó cũng phải dừng lại ở chừng mực được nhà nước cộng sản Việt Nam cho phép. Ngay cả các nghệ sĩ - curator người Thái như Kirkrit và Gridthiya còn phải dùng đến chủ đề “Giải phóng, Thống nhất và Tái thiết” để được làm chủ xị một sự kiện mỹ thuật như thế này trên đất nước của chúng ta, thì bao giờ những Đào Anh Khánh hay bất kỳ ai đó được tự do trình diễn thứ nghệ thuật mang tính cộng đồng này trên đường phố Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh? Khá hơn hay không, không phải nằm ở khao khát của người nghệ sĩ mà về phía cánh cửa tự do sáng tạo có được thật sự mở ra hay không.



© 2006 talawas



*************************



Công việc ba năm chậm một tuần thì sao có thể nói là thất bại?
Phỏng vấn Đỗ Thị Tuyết Mai do Thuận Thiên thực hiện
 
Image
Bà Đỗ Thị Tuyết Mai, giám đốc SOC

(Ảnh: Sài Gòn Tiếp thị Online)
Thuận Thiên: Bà có thể kể cho bạn đọc sơ lược quá trình hình thành và thực hiện dự án mỹ thuật “Sài Gòn Thành phố mở” (SOC) diễn ra như thế nào?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Phải nói cho có đầu đuôi một chút. Tiền thân của dự án SOC là dự án Saigon Biennale. Ý tưởng này xuất phát từ việc tôi muốn lấy tinh thần của biennale mỹ thuật đã có ở nhiều nơi trên thế giới để tạo một sinh hoạt văn hoá mỹ thuật 2 năm một lần cho Việt Nam. Biennale Venise có từ cuối thế kỷ XIX, sau đó ý tưởng biennale lan toả sang các nước phát triển từ sau Thế chiến 2, các thành phố lớn ở phương Tây sử dụng nó như một mô hình văn hoá. Những năm 1980, 1990 thì lan sang châu Á; các biennale Pusan, Seoul, Thượng Hải, Bắc Kinh… đã ghi được dấu ấn trong thế giới mỹ thuật quốc tế. Tôi mong muốn tạo được một sự kiện tương tự cho nước mình, trong bối cảnh mỹ thuật Việt Nam đã chuyển mạnh trên tinh thần đương đại và hoà nhập với mỹ thuật khu vực và thế giới.



Thuận Thiên: Vậy thì hai lần “thất bại”, theo chữ dùng của chính bà trong buổi toạ đàm tại Studio SOC, của Saigon Biennale, chủ yếu là do đâu?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Chủ yếu là do người ta chưa hình dung được đúng tinh thần của nó. Một định kiến chính thống cho rằng một hoạt động mang tính định kỳ của nghệ thuật như thế phải do các tổ chức chính thống của nhà nước (như Bộ Văn hoá, Hội Mỹ thuật) đứng ra, kiểu như Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 5 năm một lần ấy. Người ta khó chấp nhận một tổ chức phi chính phủ lại được phép đảm nhận một công việc như thế. Nhưng thực ra, biennale cũng chỉ là một hoạt động nghệ thuật như rất nhiều hoạt động khác, nó không có tham vọng quy tụ những tác phẩm tiêu biểu nhất trong một thời kỳ như các triển lãm định kỳ của các cơ quan chính thức.



Thuận Thiên: Có thể người ta dị ứng vì bà là người kinh doanh từ lĩnh vực khác bây giờ lại nhảy vào mỹ thuật?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Tôi có quá trình làm việc về mỹ thuật đấy chứ. Khởi đầu từ năm 1998, do tò mò, trong một chuyến ra Hà Nội tôi đến xem hoạt động của Nhà sàn. Tôi rất ấn tượng với những gì diễn ra ở đó, nhưng lại thắc mắc tại sao những hoạt động mỹ thuật đương đại ở đây diễn ra trong một không khí không thoải mái, luôn luôn có dư luận không đồng tình, nhất là từ phía chính thống. Sau khi sang New York, tôi cảm nhận được đời sống mạnh mẽ, phong phú của mỹ thuật đương đại ở đó, và thấy các nghệ sĩ được xã hội ủng hộ rất nhiệt tình. Về nước, tôi quyết định mở gallery để hỗ trợ các nghệ sĩ nước mình làm việc, thể nghiệm; tôi ưu tiên cho các nghệ sĩ không được chấp nhận ở các gallery khác. Công việc của tôi được một số tổ chức phi chính phủ ủng hộ, chính họ gợi ý tôi làm đơn xin tài trợ để hoạt động, nhắm phát triển mạnh hơn nghệ thuật đương đại ở TPHCM (đang thua sút so với Hà Nội).



Thuận Thiên: Nhưng một số hoạ sĩ có uy tín sau một thời gian ngắn cộng tác với bà đều rút lui, vì sao?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Trước nhất là vì họ không đủ kiên trì, quyết tâm. Đây là một dự án lớn lần đầu tiên được thiết kế ra ở Việt Nam cho nên những khó khăn, phức tạp là dễ hiểu. Khi tôi đưa ra dự án, ai cũng bảo là rất hay, perfect, nhưng chỉ dám chúc cho tôi thành công mà thôi chứ không ai dấn thân vào. Một mình tôi quyết đeo bám đến cùng. Chính vì thấy tôi quyết tâm cao mà Quỹ Ford quyết định tài trợ cho dự án của tôi. Thứ hai nữa là một số người khi thấy có sự chuyển đổi ý tưởng từ Saigon Biennale sang “Sài Gòn Thành phố mở” thì không mặn mà nữa. Chúng tôi cứ phải tìm người hợp tác rồi loại trừ dần để cuối cùng có sự đồng thuận. Nhóm cộng tác sau chót là một nhóm có chất lượng: Tôi là giám đốc dự án là người có kinh nghiệm quản lý và kế toán; curator là hai người Thái Lan (chị Gridthiya Gaweewong và anh Rirkrit Tiravanija) có kinh nghiệm chuyên môn, có khả năng mời các hoạ sĩ quốc tế, cũng có thể giúp tìm nguồn tài trợ; cố vấn nghệ thuật là các anh Trần Lương (Hà Nội) và Lê Quang Đỉnh (Việt kiều về làm việc tại TPHCM) đều đã thành công trong các hoạt động sáng tạo và tổ chức mỹ thuật đương đại.



Thuận Thiên: Có nhiều ý kiến về chủ đề “Giải phóng, Thống nhất, Tái thiết”. Chủ đề ấy có phải do các curator Thái Lan đưa ra, và có phải nhắm mục đích dễ xin giấy phép?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Chủ đề và tên các chương (chapter) do các curator đề xuất nhưng được sự chấp thuận của cả ban tổ chức. Hoàn toàn không phải để đối phó với chính quyền mà vì chúng tôi muốn đặt các hoạt động mỹ thuật trong một bối cảnh lịch sử. Mỹ thuật không thể tách rời lịch sử. Chúng tôi tạm lấy những mốc thời điểm để chuyển tải ý tưởng về sự gắn kết ba thế hệ hoạ sĩ. Đương đại không chỉ là của lớp trẻ, hay của phương Tây, hay là cái gì quái dị. Đương đại là cái mà mọi người xem hôm nay. Chúng tôi muốn đưa ra một bức tranh phong phú về mỹ thuật đương đại để các thế hệ thấy chỗ đứng của mình trong đó, và tương tác, bàn luận. Nếu nói chạy theo chính trị thì ngay từ khi có sự kiện Việt Nam chuẩn bị vào WTO và làm chủ hội nghị APEC chúng tôi cũng kịp chuyển đổi chủ đề. Chính Sở Văn hoá Thông tin cũng có vẻ thắc mắc về chủ đề trên. Nhưng chúng tôi không chạy theo chính trị. Nhiều người phản ứng cái tên chúng tôi đưa ra, vậy xin ai đó thử giúp đặt một tên khác hay hơn!



Thuận Thiên: Vì sao có việc các hoạ sĩ Sài Gòn cũ, một lực lượng không thể bỏ qua trong toàn cảnh mỹ thuật đương đại Việt Nam, không có mặt trong sự kiện “gắn với lịch sử” này?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Có lẽ do thời gian quá ngắn nên các curator chưa khảo sát đầy đủ các lực lượng sáng tác. Thời gian tới, với hai chapter còn lại, hy vọng mọi điều sẽ được giải đáp hết.



Thuận Thiên: Theo thông báo do SOC đưa ra thì có những tác phẩm của nhiều tác giả nổi tiếng thế giới tham dự sự kiện. Sự thực ra sao?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Chắc chắn là có các tác phẩm (chủ yếu là poster, ảnh chụp và video) của Yoko Ono (Nhật-Mỹ), Joseph Beuys (Đức), Ursula Reuter & Henning Christiansen (Đan Mạch), Martha Rosler (Mỹ), Nancy Spero (Mỹ), Chris Marker (Pháp), Christelle Lheureux (Pháp), Jean Luc Godart (Pháp-Thụy Sĩ)… Trường hợp Yoko Ono thì đây là lần đầu tiên, chưa có tiền lệ, 4 tác phẩm video (Imagine Peace, Bed-in, War is over if you want it, Onochor) được tác giả lớn này nhượng quyền sử dụng mà không thu phí.



Thuận Thiên: Rõ ràng là cảm giác thất bại của sự kiện SOC chủ yếu là do nó đã không khai mạc được đúng thời điểm như đã thông báo, tạo nên sự hẫng hụt từ phía những người trông đợi, và không tạo được sự hưởng ứng của công chúng. Công tác chuẩn bị của ban tổ chức, đặc biệt là trong khâu xin giấy phép, có vấn đề chăng?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Thực tình là thời gian chuẩn bị quá gấp gáp, mà lại là lần đầu tiên chuẩn bị cho sự kiện quốc tế lớn thế này, nên mọi thiếu sót đều có thể. Chúng tôi khởi động từ ba năm, nhưng thực sự bắt tay tổ chức cho sự kiện thì mới từ tháng 1/2006, khi các curator bàn bạc lần đầu. Tháng 7 họ mới sang khảo sát lần thứ nhất, và lần thứ hai là vào tháng 9. Việc xin giấp phép cũng thế. Chuẩn bị hồ sơ cho 60 nghệ sĩ (có 21 người nước ngoài), hơn 300 tác phẩm từ nhiều nguồn, nhiều phương tiện (nhất là phim video, có phim dài hơn 1 giờ phải đưa ra trung ương duyệt), mà nội dung thông tin phải cung cấp cho cơ quan duyệt (Sở Văn hoá Thông tin TPHCM) lại vượt quá sự hình dung của ban tổ chức. Chúng tôi xin giấy phép từ giữa tháng 10/2006, nhưng đầu tháng 11/2006 lại phải bổ sung một số tác phẩm mới do một số tác giả nước ngoài đến lúc ấy mới quyết định tham dự. Do đó qui trình thủ tục xin cấp phép có khiếm khuyết. Cơ quan cấp phép hoàn toàn ủng hộ, nhưng với một khối lượng lớn tác phẩm, họ phải làm việc quần quật trong một tháng mà vẫn không xuể. Hơn nữa, trước một sự kiện lớn thế này, họ muốn “chậm lại một nhịp”, đó là sự thận trọng có thể hiểu được của người chịu trách nhiệm. Lỗi của ban tổ chức là quá nóng lòng để khai mạc sự kiện do có nhiều sức ép, nên đã không đủ tỉnh táo để định một ngày khai mạc an toàn hơn. Đến bây giờ thì tôi cảm thấy ngày khai mạc có thể lui đến lúc nào cũng không còn là vấn đề nữa.



Thuận Thiên: Việc các curator chỉ chọn tác phẩm cũ để giới thiệu có phải do kinh phí hạn hẹp?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Đó cũng là một nguyên nhân quan trọng. Tổng kinh phí của dự án là 200.000 USD, trong khi một dự án nghệ thuật bình thường của Hàn Quốc có kinh phí 2 triệu USD, kinh phí của Biennale Singapore vừa diễn ra là 12 triệu USD. Có những khoản chi chưa từng được biết đến ở các triển lãm mỹ thuật đã có tại Việt Nam, thí dụ việc mua bảo hiểm cho toàn bộ các tác phẩm tham dự. Có những tác phẩm giá trị bảo hiểm tới 150.000 USD (ảnh của Martha, nghệ sĩ Mỹ), 200.000 USD (tượng của Montien, Thái Lan). Các tác phẩm trong nước cũng được bảo hiểm (như tác phẩm Mâm của Ly Hoàng Ly có giá trị bảo hiểm 8000 USD).



Thuận Thiên: Cho đến hôm nay (1/12/2006), theo bà, dự án SOC đã thành công và thất bại ở những điểm nào?



Đỗ Thị Tuyết Mai: Một dự án khai triển trong 3 năm mà chậm 1 tuần thì không thể nói là thất bại. Ngược lại, tôi khẳng định nó đã thành công. Vì nó đang xây dựng được cơ sở hạ tầng của hoạt động mỹ thuật đương đại, qua việc xây dựng studio SOC, việc đưa vào những phương pháp treo tranh, bố trí ánh sáng hiện đại cho các bảo tàng… Vì nó đang xây dựng được cung cách suy nghĩ và ứng xử của mọi thành phần xã hội đối với mỹ thuật đương đại. Từ nhà quản lý, đến các nghệ sĩ, người yêu thích nghệ thuật đều được tác động bởi sự kiện này. Mọi người đã đến để suy nghĩ, mắng mỏ, chê bai, hay động viên, tất cả đều là rất tốt. Sự kiện này đã đánh động đến mọi người. Ai cũng biết rằng để nghệ thuật đương đại được sự ủng hộ của cả xã hội Việt Nam, cần có một lộ trình. Trên lộ trình đó, những bất cập, bất đồng là điều có thể dự kiến. SOC không nhắm tôn vinh một cá nhân, không đem lại lợi ích riêng tư cho ai, mà đã đem lại một sự kiện văn hoá. Vậy là nó thành công.



Thuận Thiên: Xin cảm ơn sự hợp tác của bà.



© 2006 talawas